TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
BẢN ÁN 14/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/08/2024 VỀ XIN LY HÔN
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12/04/2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 07 /2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2024 của TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Thanh Đ, sinh năm 1982; địa chỉ: Buôn Z, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Hồ Thị Lệ H, sinh năm 1984; địa chỉ: Buôn Z, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Bà H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn ngày 01/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đặng Thanh Đ trình bày: Về hôn nhân: Ông Đ và bị đơn bà Hồ Thị Lệ H tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2008, đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc được 13 năm thì xảy ra mâu thuẫn, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ hai năm nay, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau, không còn tình cảm với nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà H. Về con chung: Có 02 con chung: ĐẶNG GIA B1, sinh ngày 21/9/2009 và ĐẶNG TIỂU B sinh ngày 08/02/2012, từ khi vợ chồng không chung sống đến nay hai con sinh sống cùng ông Đ, khi ly hôn con muốn ở với ai thì người đó nuôi, người kia không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không có tài sản chung.
Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án bà H vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa, ông Đ giữ nguyên nội dung yêu cầu ly hôn, đề nghị được nuôi 2 con theo nguyện vọng của các con và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Không yêu cầu giải quyết tài sản vì không có tài sản chung; bị đơn bà Hồ Thị Lệ H vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do.
Đại diện VKSND huyện Sông Hinh phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia phiên tòa và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Bà H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ. Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung ĐẶNG GIA B1, sinh ngày 21/9/2009 và ĐẶNG TIỂU B sinh ngày 08/02/2012 cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các con. Về cấp dưỡng: Ông Đ tự nguyện không yêu cầu đề nghị không xem xét. Về tài sản: Không có. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Ông Đồng khởi k xin ly hôn với bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ là tranh chấp ly hôn, giải quyết trách nhiệm nuôi con. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Buôn Z, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên theo quy định khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Bà H đã được triệu tập, tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn không có mặt tại phiên toà nên theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà H.
[2] Về nội dung:
- Quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Thanh Đ và bà Hồ Thị Lệ H tự nguyện tìm hiểu, chung sống từ năm 2008 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tại phiên toà, ông Đ vẫn giữ nguyên nguyện vọng được ly hôn với bà H vì xét thấy không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể tiếp tục chung sống. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã liên lạc, thông báo cho bà H nhiều lần nhưng bà H không tới và không cung cấp địa chỉ hiện sinh sống là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, Toà án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần tại địa chỉ đăng ký thường trú, nhưng bà H vẫn cố tình vắng mặt nên không có lời khai, là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Theo xác minh, cơ quan quản lý gia đình và trẻ em (Hội liên hiệp phụ nữ xã E) không xác định được thực tế vợ chồng ông Đ và bà H có mâu thuẫn hay không vì hai vợ chồng đã không còn sinh sống tại nơi cư trú khoảng 4 năm nay, nhưng hai con của ông Đ và bà H có lời khai lựa chọn ở với bố (ông Đ) đều trình bày bố mẹ có mâu thuẫn và đã ở riêng 2 năm. Do đó, xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của ông Đ và đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh là có căn cứ chấp nhận.
- Con chung: Ông Đ và bà H có 02 con chung: ĐẶNG GIA B1, sinh ngày 21/9/2009 và ĐẶNG TIỂU B sinh ngày 08/02/2012 đang sống cùng bố (ông Đ) và có nguyện vọng tiếp tục được sống cùng ông Đ, ông Đ đề nghị chấp nhận nguyện vọng của các con, bà H vắng mặt không có ý kiến, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Đ giao 02 con chung: ĐẶNG GIA B1, sinh ngày 21/9/2009 và ĐẶNG TIỂU Bsinh ngày 08/02/2012 cho ông Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ tự nguyện không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Tài sản chung: Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết vì không có tài sản chung, bà H vắng mặt không có ý kiến, nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ông Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0001797 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Thanh Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Thanh Đ được ly hôn bà Hồ Thị Lệ H.
2. Về con chung: Giao 02 con chung ĐẶNG GIA B1, sinh ngày 21/9/2009 và ĐẶNG TIỂU B sinh ngày 08/02/2012 cho ông Đặng Thanh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Ông Đ không yêu cầu bà Hồ Thị Lệ H cấp dưỡng nuôi con.
Bà Hồ Thị Lệ H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng quyền thăm nuôi con để gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người trực tiếp nuôi con.
Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, vì quyền lợi của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Nguyên đơn ông Đặng Thanh Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001797 ngày 12/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Hinh. Ông Đặng Thanh Đ đã thi hành xong phần án phí.
Ông Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án về xin ly hôn số 14/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 14/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Sông Hinh - Phú Yên |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về