Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con (vợ được nuôi 2 con trên 7 tuổi) số 78/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 78/2022/HNGĐ-ST NGÀY 13/05/2022 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Trong ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 48/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Lê Văn N, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Chị H có đơn xin vắng mặt, anh N vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 12/5/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị H trình bày:

Năm 2005, chị với anh N chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 45, cấp ngày 28/4/2009. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau khi sinh con thứ hai thì nhiều mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân do quan điểm sống không hợp nhau, anh N lại thường xuyên say rượu, không chăm lo gia đình, công việc không ổn định, mỗi khi say, anh N hành hạ chửi mắng chị và các con. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ, phân tích cho anh N nghe nhưng cũng không thay đổi, dẫn đến tình cảm gia đình không hạnh phúc. Tuy nhiên, vì con chị đã cố gắng cho qua mọi việc, nhưng hiện tại chị nhận thấy cuộc hôn nhân này không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể chung sống, chị quyết định chấm dứt mối quan hệ vợ chồng với anh N nên chị khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Văn N.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Lê Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 14/3/2007 và Lê Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/5/2011. Từ nhỏ hai cháu do chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và hai cháu cũng có nguyện vọng sống chung với chị. Ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu H và A, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi hai cháu H và A.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Chị H có đơn xin vắng mặt. Anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H và anh N theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh N chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại y ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 28/4/2009 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H với anh N là hợp pháp. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn do mâu thuẫn như trên nên chị H yêu cầu xin ly hôn với anh N. Nhưng anh N là chồng mà không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng và cũng không có ý kiến gì để phản đối yêu cầu xin ly hôn của chị H nên theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh N có hai người con chung tên Lê Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 14/3/2007 và Lê Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/5/2011.

Xét yêu cầu nuôi dưỡng hai cháu H và A của chị H, thấy rằng: Hai cháu H và A hiện nay đang sống ổn định với chị H. Mặt khác, hai cháu H và A đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng sống với chị H khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của hai cháu H và A, Hội đồng xét xử thấy cần phải giao hai cháu H và A cho chị H nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Xét chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi hai cháu H và A nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này chị H có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh N không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 51, 56, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Kim H ly hôn với anh Lê Văn N.

2. Về con chung: Giao hai cháu Lê Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 14/3/2007 và Lê Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/5/2011 cho chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Lê Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001711 ngày 14/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Vậy chị H đã thi hành xong án phí.

4. Chị H, anh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

136
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con (vợ được nuôi 2 con trên 7 tuổi) số 78/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:78/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 13/05/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về