TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG
BẢN ÁN 107/2024/HS-ST NGÀY 26/12/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST- HS ngày 29/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/HSST-QĐ ngày 12/12/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đức T; Sinh ngày: 03/7/2003 tại: Quảng Trị.
HKTT và chỗ ở: Thôn 1, xã LB, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông: Trần Đức M – Sinh năm: 1975, con bà: Lê Thị Kim T – Sinh năm:
1980; Hiện cả hai trú tại Thôn 1, xã LB, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; V con : Chưa có.
Tiền án: Tại bản án số 11/2022/HS-ST, ngày 28/3/2022 bị Toà án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/12/2022.
Tiền sự: Không Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 07/8/2024, đến ngày 13/8/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
( Bị cáo có mặt ).
* Người làm chứng: Anh K’ C, sinh năm: 1993 Địa chỉ: thôn 1, xã LB, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng ( V ng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 15 giờ 20 phút ngày 07/8/2024, tại nhà Trần Đức T thuộc thôn 1, xã LB, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, Công an huyện Bảo L b t quả tang Trần Đức T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra Công an huyện Bảo L phát hiện tại đầu giường nơi T đang nằm có 01 gói nylon màu tr ng đư c hàn kín, kích thước 09cm x 4,5cm, bên trong có 01 gói nylon màu tr ng viền màu đỏ, kích thước 6,5cm x 04cm và 01 gói nylon màu tr ng viền màu tr ng 06cm x04cm, bên trong cả 02 gói nylon đều chứa các hạt tinh thể màu tr ng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Trần Đức T Công an huyện Bảo L phát hiện tại ngăn tủ thứ nhất đầu giường ngủ của T 01 hộp nhựa có dòng chữ Tyrotab màu tr ng, xanh dương kích thước 5,7cm x 4,7cm x 1,2cm, bên trong có 01 túi nylon màu tr ng chứa các hạt tinh thể màu tr ng đư c hàn kín kích thước 04cm x 04cm. Lực lư ng Công an đã thu giữ và niêm phong gửi giám định, ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu tím không lên nguồn của Trần Đức T.
Tại Bản kết luận giám định số 960/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định:
- Phong bì 01: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong mười ba gói nylon đư c niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lư ng 1,2188g loại Methamphetamine.
- Phong bì 02: Mẫu tinh thể (M2) đựng trong ba gói nylon đư c niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lư ng 15,9553g loại Methamphetamine. Tổng khối lư ng 17,1741g loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra xác định Trần Đức T là đối tư ng nghiện ma túy. Sáng ngày 04/8/2024, Trần Đức T đến khu vực bờ hồ Bảo Lộc gặp và mua của một người đàn ông tên Tài (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 gói ma túy đá với giá 10.000.000đ. Do ma tuý đựng trong hai gói nylon có nhiều cục có kích thước lớn, chưa thể sử dụng đư c nên sau khi mua đư c ma túy, T mang về nhà lấy một cục ma tuý cho vào 01 gói nylon kích thước 04cm x 04cm đập nhỏ ra rồi chia ma tuý vào nhiều gói nylon nhỏ hơn (02cm x 1,5cm) để sử dụng dần. Các gói nylon nhỏ chứa ma túy này đư c T cất vào 01 hộp giấy màu xanh để đầu giường ngủ. Còn lại một ít ma túy trong gói nylon 04cm x 04cm T cất vào trong hộp nhựa có dòng chữ Tyrotab và cất vào trong tủ trước đầu giường trong phòng ngủ của T cùng với 02 gói ma túy mua đư c trước đó. Đến 15 giờ 20 phút ngày 07/8/2024, T đang ở nhà thì bị Công an huyện Bảo L đến kiểm tra, b t quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.
Cáo trạng số 112/CT-VKSBL ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Đức T về tội: “Tàng trữ trái phép Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Đức T từ 07 đến 08 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 02 Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 02 Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,9530g và 15,2245g.
Tổng khối lư ng ma tuý hoàn lại sau giám định: 16, 1775g; 01 cân tiểu ly và 15 túi nylon màu tr ng (bên trong không có gì).
Trả lại cho bị cáo Trần Đức T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu tím không lên nguồn.
-Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Bảo L; Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai tại cơ quan điều tra, phù h p với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù h p với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Bị cáo Trần Đức T là đối tư ng nghiện ma túy, sáng ngày 04/8/2024 bị cáo T đến khu vực bờ hồ Bảo Lộc thuộc phường 1, thành phố Bảo Lộc gặp và mua của một người đàn ông tên Tài (không rõ nhân thân lai lịch) 02 gói ma túy đá với giá 10.000.000đ sau đó bị cáo T mang về nhà cất giấu để sử dụng, đến ngày 07/8/2024 thì bị lực lư ng Công an huyện Bảo L b t qủa tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tại Bản kết luận giám định số 960/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định:
- Phong bì 01: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong mười ba gói nylon đư c niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lư ng 1,2188g loại Methamphetamine.
- Phong bì 02: Mẫu tinh thể (M2) đựng trong ba gói nylon đư c niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lư ng 15,9553g loại Methamphetamine. Tổng khối lư ng 17,1741g loại Methamphetamine.
Hành vi trên của bị cáo Trần Đức T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo là đối tư ng nghiện ma túy nhưng không tìm cách cai nghiện, trái lại lén lút mua ma túy cất giấu để sử dụng. Hành vi trên gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đư c áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 28/3/2022 bị cáo Trần Đức T bị Toà án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/12/2022 tính đến ngày 07/8/2024 bị cáo T tiếp tục phạm tội mới nên thuộc trường h p tái phạm, do vậy cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 02 Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 02 Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,9530g và 15,2245g. Tổng khối lư ng ma tuý hoàn lại sau giám định: 16,1775g; 01 cân tiểu ly và 15 túi nylon màu tr ng (bên trong không có gì).
Trả lại cho bị cáo Trần Đức T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu tím không lên nguồn.
[8] Các vấn đề khác: Trong vụ án có đối tư ng tên “Tài” là người trực tiếp bán ma tuý cho bị cáo T, quá trình điều tra, xác M không xác định đư c nhân thân, lai lịch, đặc điểm, nhận dạng; không xác định đư c T tin khác có liên quan. Cơ quan Cảnh sát điều tra hiện đang xác M làm rõ, khi nào xác định đư c sẽ xử lý sau.
[9] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù h p với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra; đủ để răn đe, phòng ngừa riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn ma túy hiện nay.
[10] Về án phí: Bị cáo Trần Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Đức T 07 ( Bảy ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 02 Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,9530g và 15,2245g. Tổng khối lư ng ma tuý hoàn lại sau giám định: 16,1775g; 01 cân tiểu ly và 15 túi nylon màu tr ng (bên trong không có gì).
Trả lại cho bị cáo Trần Đức T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu tím không lên nguồn.
( Các vật chứng trên theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 09/12/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L với Công an huyện Bảo L ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban T vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Đức T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đư c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 26/12/2024 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 107/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 107/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/12/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về