Bản án về tội gá bạc số 08/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 08/2024/HS-ST NGÀY 31/01/2024 VỀ TỘI GÁ BẠC

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS, ngày 18/01/2024, đối với các bị cáo:

1. Hầu Văn N, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/02/1987, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú, chỗ ở: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Hầu Văn L (đã chết) và bà Hứa Thị L1, sinh năm 1944; vợ: Hà Thị Khiết H, sinh năm 1992; con: có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016.

- Tiền sự: Không;

- Tiền án: Có 01 tiền án; tại bản án số 65/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/4/2022 (chưa được xóa án tích).

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

2. Nguyễn Văn T, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/11/1989, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú, chỗ ở: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Chí T1 (đã chết) và bà Trần Thị X, sinh năm 1957; vợ, con: Chưa có.

- Nhân thân: Ngày 07/05/2021 UBND tỉnh T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoáng sản trái phép (đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).

- Tiền sự: Không;

- Tiền án: Có 01 tiền án; tại bản án số 65/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 năm 02 tháng về tội Đánh bạc. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 08/11/2022 (chưa được xóa án tích);

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

- Người có quyền li, nghĩa vụ liên quan:

+ Phạm Văn Đ, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

+ Nông Trọng N1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

+ Nông Văn V, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

+ Nông Thị T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

+ Ngô Văn H1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

+ Hứa Văn H2, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

+ Tô Văn T3, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

ều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 12/10/2023 Nguyễn Văn T (đã có 01 tiền án về tội Đánh bạc) đến quán nước của Hứa Văn s tại thôn N, xã B, huyện C thì gặp Ngô Văn H1, Nông Thị T2, Hứa Văn H2, Nông Trọng N1, Nông Văn V, Phạm Văn Đ, đang ngồi uống nước tại quán. Sau đó H1 rủ mọi người đánh bạc, thì T, T2, H2, N1, V, Đ đều đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 nhắn tin qua ứng dụng messenger cho Hầu Văn N (N có 01 tiền án về tội Tổ chức đánh bạc) hỏi mượn nhà ở của N để làm địa điểm đánh bạc, N đồng ý. Sau đó H1 đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân rồi cùng T, H1, T2, H2, N, V, Đ đi đến nhà N để đánh bạc. Khoảng 21 giờ 20 cùng ngày khi thấy mọi người đến, N mở cửa gian bếp phía sau cho mọi người vào và trải 02 chiếu cói xuống nền nhà đề mọi người ngồi đánh bạc bằng hình thức đánh liêng. Quá trình chơi T và các đối tượng quy ước và cách chơi như sau: Khi bắt đầu cho một ván bạc những người chơi đều được chia 03 quân bài tú lơ khơ để tính điểm dựa trên lá bài mình được chia và chỉ sử dụng các quân bài từ (A (Át) đến 9) để cộng điểm, điểm 09 (chín) được tính là điểm cao nhất; còn các quân bài 10, J, Q, K không được tính điểm (điển hình như 02 quân 10 và 01 quân J được tính là 0 điểm); nếu người chơi có tổng số điểm bằng nhau thì tính theo chất (rô, cơ, tép, bích) để phân biệt thắng, thua; còn nếu người chơi được chia có 03 quân bài bất kỳ gồm J, Q, K mà không liền nhau (điển hình như có 02 quân J và 01 quân K) thì gọi là hình, hình được tính lớn hơn điểm; nếu 03 quân bài được chia liền nhau (điển hình như quân 1(át),2,3 hoặc Q,K,A (át)) thì gọi là liêng, liêng được tính lớn hơn hình và điểm; liêng 1, 2, 3 là nhỏ nhất, liêng Q, K, A là lớn nhất (nếu bài liêng có các quân bài giống nhau thì tính theo chất để phân biệt thắng, thua); nếu có 03 quân bài được chia trùng nhau thì gọi là sáp (điển hình như 03 quân 2 hoặc 03 quân K), sáp được tính lớn hơn liêng và sáp 2 là nhỏ nhất, sáp Át là lớn nhất. Mỗi ván bạc người chơi phải đặt cược số tiền thấp nhất là 50.000 đồng (gọi là T4), sau đó người chia bài sẽ “tố” thêm số tiền nhất định đề những người còn lại theo hoặc có quyền tố thêm số tiền nhất định, nhưng tối đa không quá 200.000 đồng (tố lần lượt theo vòng), nếu ai không tiếp tục tham gia thì úp bài và bị thua mất số tiền đã đặt cược. Người thắng bạc là người có số điểm cao nhất hoặc có hình và liêng cao nhất. Khi các đối tượng đang đánh bạc thì có Tô Văn T3 đến tham gia đánh bạc cùng. Quá trình đánh bạc các đối tượng thống nhất đối với 08 ván đóng tiền tẩy đặt cược đầu tiên sẽ bỏ ra 50.000 đồng để đưa cho Hầu Văn N, sau khi kết thúc 08 ván cược Đ đưa cho Hầu Văn N số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) là tiền công Hầu Văn N cho mượn nhà và canh gác để các đối tượng đánh bạc. Khoảng 22 giờ cùng ngày khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện C phát hiện, lập biên bản và thu giữ: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, 02 chiếu cói đã qua sử dụng và số tiền 900.000 đồng trên chiếu bạc Quá trình điều tra xác định số tiền và vai trò của các bị cáo và các đối tượng trong vụ án như sau:

1. Hầu Văn Nghĩa là chủ nhà cho các đối tượng mượn nhà ở của mình để đánh bạc, là người each gác cho mọi người đánh bạc thu lời bất chính số tiền 400.000 đồng, khi bị phát hiện bị cáo đã giao nộp số tiền 1.600.000 đồng (trong đó 700.000 đồng bị cáo đang giữ và 900.000 đồng tiền trên chiếu bạc tại nhà bị cáo N).

2. Ngô Văn H1 là người khởi xướng mọi người đánh bạc và sử dụng 440.000 đồng đề đánh bạc, thắng 1.100.000 đồng, khi bị phát hiện đã giao nộp số tiền 1.540.000 đồng.

3. Nguyễn Văn T sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, không xác định được thắng thua, khi bị Công an phát hiện đã bỏ lại tiền trên chiếu bạc chạy về nhà.

4. Tô Văn T3 sử dụng 350.000 đồng để đánh bạc, thua 50.000 đồng, khi bị Công an phát hiện Tính bỏ chạy về nhà còn 300.000 đồng đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.

5. Nông Văn V sử dụng 620.000 đồng đề đánh bạc, thua 600.000 đồng, khi bị phát hiện đã giao nộp số tiền 20.000 đồng.

6. Nông Thị T2 sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, không xác định được thắng thua, khi bị Công an phát hiện đã bỏ lại tiền trên chiếu bạc.

7. Nông Trọng N1 sử dụng 350.000 đồng để đánh bạc, không xác định được thắng thua, khi bị Công an phát hiện đã bỏ lại tiền trên chiếu bạc chạy về nhà.

8. Hứa Văn H2 sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc, không xác định được thắng thua, khi bị Công an phát hiện đã bỏ lại tiền trên chiếu bạc chạy về nhà.

9. Phạm Văn Đ sử dụng 1.475.000 đồng để đánh bạc, thua 200.000 đồng, khi bị phát hiện đã giao nộp số tiền 1.275.000 đồng.

Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 4.435.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSCH, ngày 10 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hầu Văn N về tội: Gá bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: Đánh bạc; bị cáo Hầu Văn N phạm tội “Gá bạc”.

- Về hình phạt chính:

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hầu Văn N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi nhưng bị cáo N, bị cáo T đều thuộc hộ nghèo, không có tài sản riêng có giá trị nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 02 chiếu cói đã qua sử dụng;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền 4.435.000 đồng (trong đó của Ngô Văn H1 1.540.000 đồng; Tô VănT3 300.000 đồng; Phạm Văn Đ 1.275.000 đồng; Nông Văn V 20.000 đồng; Hầu Văn N 400.000 đồng và 900.000 các đối tượng bỏ lại trên chiếu bạc khi bỏ chạy); 01 điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A20 của Hầu Văn N (đã qua sử dụng).

Trả lại cho Ngô Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 (đã qua sử dụng);

Trả lại Hầu Văn N số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với hành vi đánh bạc của Ngô Văn H1, Nông Thị T2, Phạm Văn Đ, Nông Văn V, Hứa Văn H2, Nông Trọng N1, Tô Văn T3, quá trình điều tra xác định tổng số tiền các đối tượng nêu trên sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Bản thân các đối tượng không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên hành vi của các đối tượng nêu trên không cấu thành các tội danh tương ứng. Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề nghị xem xét, xử lý.

Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo Bản án đối với các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa, bị cáo Hầu Văn N, Nguyễn Văn T tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì, không có ý kiến tranh luận, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tới mức thấp nhất cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Hầu Văn N, Nguyễn Văn T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 20 phút đến 22 giờ ngày 12/10/2023 tại nhà ở của Hầu Văn N - thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Văn T (có 01 tiền án về hành vi đánh bạc) đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng cùng Ngô Văn H1, Nông Thị T2, Phạm Văn Đ, Nông Văn V, Hứa Văn H2, Nông Trọng N1, Tô Văn T3. Tổng số tiền bị cáo T cùng các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 4.435.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Văn T sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc.

Bị cáo Hầu Văn N (có 01 tiền án về tội Tổ chức đánh bạc), đã có hành vi sử dụng nhà ở của mình và canh gác cho Nguyễn Văn T và các đối tượng liên quan đánh bạc, thu lời bất chính số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

Nguyễn Văn T và các đối tượng còn lại đều là người có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi và biết rồ hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện dưới hình thức đánh Liêng với mục đích sát phạt lẫn nhau được thua bằng tiền. Tuy số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Văn T dưới 5.000.000 đồng nhưng Nguyễn Văn T đã bị kết án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục có hành vi vi phạm nên đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hầu Văn N có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi, đã bị kết án về tội Tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục có hành vi dùng nhà ở của mình làm nơi cho các đối tượng khác đánh bạc, thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng nên đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố các bị cáo Hầu Văn N về tội “Gá bạc”, Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, không oan, sai.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hầu Văn N, Nguyễn Văn T đều có 01 tiền án, nhưng tiền án này xác định là yếu tố định tội nên các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T có bố là ông Nguyễn Chí T1 là dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (Quyết định số 49/QĐ-BTL ngày 19/01/2018 của Bộ), bị cáo cư trú tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo Hầu Văn N được UBND xã B, huyện C tặng Giấy khen do có thành tích trong phong trào thi đua sản xuất vụ đông năm 2015, ông ngoại Hứa Công T5 là người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc được hưởng chế độ trợ cấp, bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo T, bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo Hầu Văn N đã bị kết án về hành vi tổ chức đánh bạc, bị cáo Nguyễn Văn T đã bị kết án về hành vi đánh bạc, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo N tiếp tục có hành vi dùng nhà ở của mình cho các đối tượng khác đánh bạc, bị cáo T tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép, tình tiết này đã được xác định là căn cứ đề định tội khi hành vi Gá bạc của bị cáo N, hành vi đánh bạc của bị cáo T chưa thỏa mãn những yếu tố cơ bản cần và đủ để cấu thành tội Gá bạc quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự, tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự nên tiền án của các bị cáo được xác định là dấu hiệu định tội, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy rằng:

Tại Bản án số 65/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã quyết định bị cáo Hầu Văn N phải chấp hành hình phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc - tội nghiêm trọng, sau khi chấp hành án phạt tù trở về địa phương bị cáo chưa được xóa án tích mà bị cáo tiếp tục có hành vi phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên lần phạm tội này cần buộc bị cáo cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo Nguyễn Văn T tuy bị xét xử về tội đánh bạc, phải chấp hành hình phạt 07 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng về tội đánh bạc (tội ít nghiêm trọng hơn bị cáo N), lần đánh bạc này bị cáo sử dụng số tiền ít nhất trong các đối tượng đánh bạc (số tiền 300.000 đồng) để đánh bạc; bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có bố đẻ từng tham gia nhập ngũ, dân công hỏa tuyến, tính chất, mức độ thực hiện phạm tội đánh bạc thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hơn hành vi Gá bạc của bị cáo N, nên cần áp dụng hình phạt của bị cáo T nhẹ hơn hình phạt của bị cáo N.

Bị cáo N có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo. Nhằm thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để người phạm tội tự nguyện cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng, không cần thiết phải cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo T được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (được hưởng án treo), như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy các bị cáo phạm tội cố ý, với mục đích vụ lợi nhưng bị cáo Hầu Văn N, Nguyễn Văn T đều thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

[6]. Về vật chứng:

Đối với 01 bộ bài tú lo khơ gồm 52 quân bài; 02 chiếu cói đã qua sử dụng là vật các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 4.735.000 đồng (trong đó của Ngô Văn H1 1.540.000 đồng; Tô Văn T3 300.000 đồng; Phạm Văn Đ 1.275.000 đồng; Nông Văn V 20.000 đồng; Hầu Văn N 700.000 đồng và 900.000 đồng các đối tượng bỏ lại trên chiếu bạc). Xét thấy tại phiên tòa bị cáo N xác định đã giao nộp hết số tiền bị cáo giữ trên người là 700.000 đồng, trong đó 400.000 đồng bị cáo nhận của Phạm Văn Đ1, 300.000 đồng là tiền bị cáo đi làm thuê mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo N nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. số tiền 4.435.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc trái phép nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Hành vi đánh bạc của Ngô Văn H1 chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên xét thấy cần trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 cho Ngô Văn H1;

Đối với 01 điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A20 của Hầu Văn N (đã qua sử dụng) là phương tiện N sử dụng để liên lạc với Hl, nhất trí để các đối tượng đến nhà N đề thực hiện hành vi Đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7]. Về vấn đề khác:

Đối với hành vi đánh bạc của Ngô Văn H1, Nông Thị T2, Phạm Văn Đ, Nông Văn V, Hứa Văn H2, Nông Trọng N1, Tô Văn T3, quá trình điều tra xác định tổng số tiền các đối tượng nêu trên sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Bản thân các đối tượng không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên hành vi của các đối tượng nêu trên không cấu thành các tội danh tương ứng. Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề nghị xem xét, xử lý.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo thuộc hộ nghèo, có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 322; điềm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hầu Văn N;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T;

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Hầu Văn N phạm tội “Gá bạc”;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt chính:

Xử phạt Hầu Văn N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Xử phạt Nguyễn Văn T 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 04 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 31/01/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 02 chiếu cói đã qua sử dụng;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A20 của Hầu Văn N (đã qua sử dụng).

Trả lại Ngô Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 (đã qua sử dụng);

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa ngày 12/01/2024.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền 4.435.000 đồng (trong đó của Ngô Văn H1 1.540.000 đồng; Tô Văn T3 300.000 đồng; Phạm Văn Đ 1.275.000 đồng; Nông Văn V 20.000 đồng; Hầu Văn N 400.000 đồng và 900.000 đồng các đối tượng bỏ lại trên chiếu bạc).

Trả lại Hầu Văn N số tiền 300.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

S tiền hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3591.0.1065091.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa theo ủy nhiệm chi số 01 ngày 16/01/2024.

5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hầu Văn N, Nguyễn Văn T.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

295
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội gá bạc số 08/2024/HS-ST

Số hiệu:08/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về