TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 60/2022/HNGĐ-ST NGÀY 18/07/2022 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2022/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồ Minh L, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Ấp P, xã Q, huyện S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
- Bị đơn: Bà Thạch Thị H, sinh năm 1997;
Nơi cư trú: Ấp K, thị trấn L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hồ Minh L trình bày:
Vào năm 2017, ông Hồ Minh L cùng bà Thạch Thị H tổ chức lễ cưới. Sau đó tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Q cấp giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 26/6/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại ấp Phương Bình 1, xã Q. Sau thời gian chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây vợ chồng ông Hồ Minh L, bà Thạch Thị H phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi vả và mâu thuẫn ngày càng nhiều. Ông Hồ Minh L xác định vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thay đổi và đến năm 2020 vợ chồng không còn chung sống với nhau. Ông Hồ Minh L xác định vợ chồng có một người con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018 hiện đang được ông Hồ Minh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Hồ Minh L xác định vợ chồng không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Nay Ông Hồ Minh L yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Ông Hồ Minh L yêu cầu được ly hôn với bà Thạch Thị H.
- Về con chung: Ông Hồ Minh L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thạch Minh Đ sinh ngày 04/01/2018 đến khi thành niên và không yêu cầu Thạch Thị H phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Ông Hồ Minh L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Ông Hồ Minh L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện ông Hồ Minh L đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có:
+ Chứng minh nhân dân mang tên Hồ Minh L (bản sao chứng thực);
+ Sổ hộ khẩu tên chủ hộ Hồ Văn T (bản sao chứng thực);
+ Trích lục kết hôn;
+ Bản sao Trích lục khai sinh mang tên Thạch Minh Đ;
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cũng như hỗ trợ cho nguyên đơn trong việc gửi các tài liệu chứng cứ cho bà Thạch Thị H. Nhưng bà Thạch Thị H thường xuyên không có mặt tại nhà và được ông Thạch B là cha ruột, ngụ cùng địa chỉ nhận thay các văn bản tố tụng. Do đó việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên bà Thạch Thị H không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ Minh L xác định con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018 là do thỏa thuận của vợ chồng thống nhất con chung mang họ của bà Thạch Thị H (nội dung này hoàn toàn phù hợp với trích lục giấy khai sinh số 27/TLKS-BS ngày 23/01/2018 thể hiện con chung của bà Thạch Thị H ông Hồ Minh L).
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành ghi ý kiến của ông Thạch B là cha ruột của bà Thạch Thị H xác định mối quan hệ hôn nhân, con chung và hiện nay ông Thạch B đã thực hiện thông báo cho bà Thạch Thị H biết thông tin nhưng bà Thạch Thị H không có ý kiến hay yêu cầu gì.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 10/6/2022, ông Hồ Minh L có văn bản yêu cầu vắng mặt xét xử. Trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ông Hồ Minh L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà Thạch Thị H, yêu cầu được nuôi con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018 đến khi thành niên và không yêu cầu bà Thạch Thị H phải cấp dưỡng cho con. Ông Hồ Minh L không thể có mặt được vì đang bận công việc. Bên cạnh đó, giữa ông Hồ Minh L và bị đơn không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Hồ Minh L vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Bị đơn bà Thạch Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy tình cảm vợ chồng ông Hồ Minh L và bà Thạch Thị H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Minh L cho vợ chồng ông Hồ Minh L bà Thạch Thị H ly hôn. Về con chung giao cho ông Hồ Minh L trực tiếp nuôi dưỡng và bà Thạch Thị H không phải phải cấp dưỡng cho con chung. Về tài sản chung và nợ chung ông Hồ Minh L xác định không có nên không đặt ra xem xét. Ngoài ra còn buộc ông Hồ Minh L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 14/3/2022, ông Hồ Minh L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Thạch Thị H có nơi cư trú tại ấp K, thị trấn L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Nguyên đơn ông Hồ Minh L vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Thạch Thị H vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Xét yêu cầu của Nguyên đơn ông Hồ Minh L về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân Vào năm 2017, ông Hồ Minh L cùng bà Thạch Thị H tổ chức lễ cưới. Sau đó tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Q cấp giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 26/6/2017. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Hồ Minh L và bà Thạch Thị H là hợp pháp.
[3.2] Theo trình bày của ông Hồ Minh L: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại ấp Phương Bình 1, xã Q. Sau thời gian chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây vợ chồng ông Hồ Minh L, bà Thạch Thị H phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi vả và mâu thuẫn ngày càng nhiều. Ông Hồ Minh L xác định vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thay đổi và đến năm 2020 vợ chồng không còn chung sống với nhau và bà Thạch Thị H đã quay về sống bên gia đình của cha mẹ ruột tại ấp K, thị trấn L, huyện M cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy những nội dung này đã được tống đạt cho bà Thạch Thị H nhận sau khi thụ lý vụ án. Tuy nhiên bà Thạch Thị H không có ý kiến hay phản đối những tình tiết, sự kiện trên. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Ông Hồ Minh L đã xác định cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn được và vợ chồng đã sống ly thân do bà Thạch Thị H bỏ về sống bên gia đình tại ấp K, thị trấn L từ cuối năm 2020 cho đến nay. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng cho ông Hồ Minh L bà Thạch Thị H hàn gắn tình cảm, tuy nhiên bà Thạch Thị H đều vắng mặt. Việc này đã thể hiện việc cho bà Thạch Thị H không muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Hồ Minh L. Vì vậy Tòa án không tổ chức được phiên hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Minh L cho ông Hồ Minh L được ly hôn với cho bà Thạch Thị H.
[3.5] Về thời điểm chấm dứt hôn nhân: Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 của Luật hôn nhân dân đình quy định “Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật”. Do đó quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49 do Ủy ban nhân dân xã Q, huyện S, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 26/6/2017 của ông Hồ Minh L và bà Thạch Thị H sẽ chấm dứt khi Bản án này có hiệu lực pháp luật.
[3.6] Về con chung: Ông Hồ Minh L xác định thời gian chung sống, vợ chồng ông Hồ Minh L và bà Thạch Thị H có một người con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018. Hiện nay con chung do ông Hồ Minh L đang trực tiếp nuôi dưỡng. Việc này cũng hoàn toàn phù hợp với giấy khai sinh mang tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018 thể hiện là con chung của ông Hồ Minh L, bà Thạch Thị H.
[3.7] Xét ý kiến của ông Hồ Minh L về việc ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018 hiện nay đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018 đang sống cùng với cha là ông Hồ Minh L khi bà Thạch Thị H bỏ về sinh sống bên gia đình của cha mẹ ruột tại ấp K, thị trấn L cho đến nay. Bà Thạch Thị H cũng không có ý kiến gì về việc này. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao cháu Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018 cho ông Hồ Minh L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.
[3.8] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Hồ Minh L xác định hiện tại có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng khoảng 8.000.000 đồng nên đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Thạch Thị H phải cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.9] Bên cạnh đó bà Thạch Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về tài sản chung: Ông Hồ Minh L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về nợ chung: Ông Hồ Minh L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy ông Hồ Minh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
[7] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, ông Hồ Minh L, bà Thạch Thị H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57 các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Minh L.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Minh L được ly hôn với bà Thạch Thị H. Quan hệ hôn nhân giữa ông Hồ Minh L bà Thạch Thị H theo giấy chứng nhận kết hôn số 49 do Ủy ban nhân dân xã Q, huyện S, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 26/6/2017 chấm dứt kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.
2/ Về con chung: Giao con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 04/01/2018 (hiện nay con chung đang sống chung với ông Hồ Minh L) cho ông Hồ Minh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Bà Thạch Thị H không phải cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà Thạch Thị H mà không ai được cản trở. Bà Thạch Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Ông Hồ Minh L cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Thạch Thị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3/ Về tài sản chung: Ông Hồ Minh L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4/ Về nợ chung: Ông Hồ Minh L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồ Minh L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003333, ngày 14/3/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (Như vậy ông Hồ Minh L đã thực hiện xong). Bà Thạch Thị H không phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6/ Về quyền kháng cáo: Ông Hồ Minh L và bà Thạch Thị H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Bản án về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 60/2022/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 60/2022/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 18/07/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về