Bản án 99/2019/HNGĐ-ST ngày 19/03/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 99/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/03/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH, LY HÔN

Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 362/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp HNGĐ, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXXST-DS ngày 11/02/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị K, sinh năm 1992;

Cư trú: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Hồ Văn V, sinh năm 1992.

Cư trú: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

(Bà K có mặt, ông V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai cùng ngày 04/10/2018 cùng với các tài liệu và chứng cứ kèm theo của bà Hồ Thị K trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông Hồ Văn V là do cha mẹ định đoạt, sống chung vào năm 2011 nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn bà sống bên chồng tại xã P được 02 năm. Năm 2013, bà và ông V đi làm công nhân ở Bình Dương. Nguyên nhân xin ly hôn là do ông V thường xuyên cờ bạc không chăm lo cho gia đình. Bà và ông V ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay bà xin ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà với ông V có 01 con chung tên Hồ Thị Diễm T, sinh ngày 09/7/2012 hiện đang sống với ông V. Khi ly hôn bà đồng ý để cháu T cho ông V nuôi dạy, bà xin không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông Hồ Văn V theo quy định nhưng ông V vẫn không có mặt theo văn bản triệu tập của Tòa án, mặc dù trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án có phân công cán bộ đến tại nhà của ông V làm việc nhưng vẫn không gặp ông V để ghi lời khai.

Chứng cứ thu thập được: Tại biên bản ngày 15/02/2019 được bà Lê Thị H cho biết: Ông Hồ Văn V là cháu ruột của chồng bà. Bà K, ông V là vợ chồng nhưng hai người không còn sống chung từ năm 2016 đến nay. Hiện nay ôngV đi làm ăn xa không có ở nhà nhưng vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Bà K, ông V có 01 con chung tên Hồ Thị Diễm T. Cháu T hiện nay do ông V nuôi dạy.

Tại biên bản xác minh ngày 15/02/2019 được ông Lê Văn H – Phó ấp P cho biết: ông V vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương.

Tại Phiên tòa bà K trình bày: Bà đồng ý để ông V nuôi con chung, bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 700.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử (HĐXX), xét xử vắng mặt ông V theo thủ tục chung.

Quan điểm Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc ghi lời khai, hòa giải, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị HĐXX: Xét yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Bà Hồ Thị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn V. Đồng thời, ông V cư trú trên địa bàn huyện A. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông V theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Năm 2011, bà K và ông V tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Mặc dù hôn nhân của ông bà được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Tuy nhiên sau đám cưới bà K, ông V không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc trình bày của bà K phù hợp với giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 29/6/2018 nên hôn nhân giữa ông bà không có giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử không công nhận bà Hồ Thị K và ông Hồ Văn V là vợ chồng là có căn cứ và hợp pháp.

[4] Về con chung: Bà K, ông V có 01 con chung Hồ Thị Diễm T, sinh ngày 09/7/2012. Căn cứ theo lời trình bày của bà K và lời trình bày của bà Lê Thị H thì hiện nay cháu T đang được ông V nuôi dạy. Bà K đồng ý để ông V tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu T đang sống với ông V. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý bình thường và điều kiện sống của con chung, HĐXX nghĩ nên chấp nhận để cho ông Vui tiếp tục nuôi dạy cháu T là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tòa án không làm việc được với ông Vui về việc có yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con chung không. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 700.000 đồng đến khi cháu T trưởng thành. Xét thấy việc bà K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 700.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật nên công nhận sự tự nguyện của bà K.

HĐXX cũng giải thích cho các đương sự biết: Ông V cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà K xác định không có nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Ông V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 9, 14, 15, 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị K

Về hôn nhân: Không công nhận bà Hồ Thị K và ông Hồ Văn V là vợ chồng.

Về con chung: Ông Hồ Văn V được quyền nuôi dưỡng cháu Hồ Thị Diễm T, sinh ngày 09/7/2012.

Bà Hồ Thị K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày án có hiệu luật pháp luật cho đến khi cháu Hồ Thị Diễm T đến tuổi trưởng thành và tự lập được.

Ông V cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà Hồ Thị K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng. Khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí bà K đã nộp theo biên lai thu số 0010862 ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. Bà K nộp thêm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Bà K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 19/3/2019). Riêng ông V được quyền kháng cáo trong thời hạn trên kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 99/2019/HNGĐ-ST ngày 19/03/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn

Số hiệu:99/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Phú - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về