Bản án 93/2019/HSST ngày 04/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 93/2019/HSST NGÀY 04/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04/9/2019, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2019/HSST ngày 14/8/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2019/QĐXXST-HS ngày 21/8/2019 đối với bị cáo:

Lê Đức H, sinh ngày 10/7/1987 tại Uông Bí, Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; cư trú tại tổ 2, khu H An 1, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, Quảng Ninh; nghề ngH: tự do; học vấn: 09/12; bố là ông Lê Đức D (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa có; bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/6/2019, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.

- Những người chứng kiến:

+ Anh Lại Văn P, sinh năm 1979, trú tại tổ 26, khu 7, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, Quảng Ninh, vắng mặt;

+ Anh Đỗ Tuấn T, sinh năm 1996, trú tại tổ 26, khu 3, phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/6/2019, tại tổ 23, khu 7, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, Lê Đức H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,179 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Trong quá trình điều tra bị cáo khai: do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 17 giờ ngày 14/6/2019, bị cáo gọi điện cho nam thanh niên tên C là người bị cáo quen hỏi mua ma túy đá. Sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14-961-L6 đến quán nước chè vỉa hè ở tổ 23, khu 7, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí gặp C, bị cáo đưa C 300.000 đồng và nhận lại 01 túi nilon kích thước (1,5x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Bị cáo xác định đúng là ma túy đá và đi về. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến đường nội thị trước cổng khách sạn Sentosa thuộc tổ 23, khu 7, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí thì bị cáo bị cơ quan chức năng dừng xe kiểm tra, bị cáo thả túi ma túy đá xuống mặt đường ngay vị trí đang đứng nhưng bị cơ quan chức năng phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa bị cáo khai: việc truy tố của viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Người thanh niên tên C bị cáo quen qua mạng xã hội nhưng không biết lai lịch cụ thể. Quá trình điều tra bị cáo còn bị thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm sóat 14-961-L6 là xe của anh Vũ Thanh T cho bị cáo mượn đi lại, 01 điện thoại Huawei gắn sim số 0966.347.666 là điện thoại bị cáo dùng để gọi cho C hỏi mua ma túy, 37.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.

Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Những người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra thu thập được.

Tại bản kết luận giám định số 538/GĐMT ngày 17/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: chất tinh thể màu trắng trong túi nilon đựng trong phong bì niêm phong thu của bị cáo gửi giám định là ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,179gam.

Tại cáo trạng số 100 ngày 13/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo Lê Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Đức H từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/6/2019.

Về vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 538/GĐMT của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng ninh, 01 sim số 0966.347.666; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Huawei vỏ màu vàng; Trả lại bị cáo số tiền 37.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Cơ quan điều tra thành phố Uông Bí, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/6/2019, tại tổ 23, khu 7, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, Lê Đức H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,179 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Lê Đức H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Đức H đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiện nguy hiểm cho xã hội nên việc quản lý, sử dụng chất ma túy phải tuân theo các quy định của pháp luật, trong vụ án này, bị cáo là người thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội, vì vậy cần phải lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo nói riêng và đảm bảo tính phòng ngừa tệ nạn ma túy trong xã hội nói chung.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về hình phạt chính:

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tập trung cải tạo tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét thấy bị cáo không có nghề ngH ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ 01 túi nilon chứa 0,179 gam ma túy Methamphetamine, 01 xe mô tô biển kiểm soát 14-961-L6, 01 điện thoại Huawei gắn sim số 0966.347.666, 37.000 tiền Việt Nam đồng.

Xét thấy: số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 538/GĐMT là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy, xe mô tô biển kiểm soát 14-961-L6 cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập, điện thoại Huawei là công cụ phương tiện bị cáo gọi hỏi mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước, 01 sim số không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, 37.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo không liên quan việc phạm tội cần trả cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Đối với đối tượng tên C bán ma túy cho bị cáo không xác định được lai lịch địa chỉ nên không làm rõ được để xử lý.

[6] Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

[7] Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố: Lê Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Đức H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/6/2019.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 538/GĐMT của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng ninh, 01 sim số 0966.347.666; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Huawei vỏ màu vàng; Trả lại bị cáo số tiền 37.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí ngày 06/8/2019).

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đức H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HSST ngày 04/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:93/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 04/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về