Bản án 93/2018/HS-ST ngày 09/02/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 93/2018/HS-ST NGÀY 09/02/2018 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 09/02/2018, tại Nhà văn hoá khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 001 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; HKTT: khu Niềm Xá, phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1969 (đã chết) và bà Ngô Thị Th, sinh năm 1971; Vợ: Võ Hải A, sinh năm 1995; có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2017 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tại giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:  Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn Kẻng, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi Ng vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 1968; Trú tại: khu Niềm Xá, phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ, ngày 14/10/2017, Nguyễn Văn H, đi bộ đến gặp anh Nguyễn Văn H, nhân viên nhà hàng tại địa chỉ: số 48; khu Niềm Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh để mượn xe môtô nhãn hiệu Dream BKS 98F1 – 023.08 mục đích đem cầm cố lấy tiền ăn tiêu. H nói dối anh Hậu là mượn xe để đi ra ngoài 5 phút có việc xong quay về trả ngay. Vì là người quen nên anh hậu tin tưởng và cho H mượn xe. Sau khi mượn được xe, H điều khiển chiếc xe này đến gặp người quen là anh Nguyễn Như Hoà, và nhờ  Hoà đem xe đặt làm tin để vay cho H 5.000.000đ. Anh Hoà đồng ý ngồi phía sau xe để H điều khiển đi đến nhà anh đến nhà anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 1968; trú tại: khu Niềm Xá, phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh. Khi đến nơi, Hoà đã hỏi vay anh Ng 5.000.000đ và nói để lại xe hai hôm sẽ trả tiền và lấy xe. Anh Ng có hỏi xe của ai thì H bảo xe của bạn, giấy tờ không cầm. Anh Ng đồng ý và giao tiền cho Hoà, Hoà đưa cả tiền cho H. Sau khi cầm tiền H đã một mình ăn tiêu hết.

Tại bản kết luận định giá 483/KL-HĐ ngày 20/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản - Uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Ninh kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu BKS 98F1-02308 đã qua sử dụng có giá 20.000.000đ.

Từ những tình tiết nêu trên, Cáo trạng số 01/CTr - VKS ngày 04/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như sau: Do thiếu tiền ăn tiêu nên khoảng 01 giờ, ngày 14/10/2017 sau khi ăn đêm về H nảy sinh ý định mượn xe mô tô của người quen là anh Nguyễn Văn H rồi đem cầm có lấy tiền ăn tiêu. H đi bộ đến gặp anh Hậu và nói dối là mượn xe để đi ra ngoài. Sau khi mượn được xe H điều khiển xe đến quán điện tử ở khu Ga, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh để gặp người quen là anh Hoà và nhờ anh Hoà đem xe đến nhà anh Ng đặt làm tin vay cho H 5.000.000đ. Do không biết chiếc xe do H phạm tội mà có nên Hoà đồng ý. Hoà, H đi xe đến nhà anh Ng hỏi vay anh Ng 5.000.000đ và để lại chiếc xe sau hai hôm sẽ trả tiền và lấy xe. Anh Ng hỏi xe của ai thì H nói là xe của bạn nên anh Ng đồng ý và đưa cho vay số tiền 5.000.000đ.

Bị hại là anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra khai đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

Người có quyền lợi Ng vụ liên quan là anh Nguyễn Trọng N vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra khai đã giao lại tài sản cho cơ quan điều tra nhưng chưa nhận lại số tiền đã đưa cho bị cáo vay, yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, kết luận Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 139; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn H từ 12 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2017.

- Trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Văn H phải trả anh Nguyễn Trọng N số tiền 5.000.000đ.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi Ng vụ liên quan và vật chứng thu giữ. Căn cứ vào kết luận định giá tài sản và các tài liệu trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 14/10/2017 Nguyễn Văn H bằng thủ đoạn gian dối đã chiếm đoạt chiếc mô tô nhãn hiệu Dream BKS 98F1-02308 trị giá 20.000.000đ của anh Nguyễn Văn H. Nguyễn Văn H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999. Việc truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đối với Nguyễn Văn H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên cần xử lý nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của  bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với Nguyễn Văn H như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Liên quan trong vụ án còn có anh Nguyễn Như Hòa là người đã đưa H đến nhà anh Nguyễn Trọng N để vay tiền và gửi lại chiếc xe làm tin. Anh Hòa và anh Ng đều không biết chiếc xe do H phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Về vật chứng vụ án: Chiếc mô tô nhãn hiệu Dream BKS 98F1-02308 thu hồi được là tài sản hợp pháp của anh Hậu nên cơ quan Công an đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H có vay của anh Nguyễn Trọng N số tiền 5.000.000đ nhưng chưa trả. Nay anh Ng có yêu cầu nên cần buộc bị cáo phải hoàn trả anh Ng số tiền 5.000.000đ.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 139; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 136, 329 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt Nguyễn Văn H 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2017. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

2. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Trọng N số tiền 5.000.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án cho đến khi thi hành án xong Ng vụ bồi thường, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền và Nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".


79
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2018/HS-ST ngày 09/02/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:93/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về