Bản án 86/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 86/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/11/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1985 (có mặt)

Trú tại: ấp A, xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

- Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh C, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Trú tại: ấp A, xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày: Chị và anh Huỳnh Thanh C chung sống và đăng ký kết hôn năm 2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Do không thể tiếp tục chung sống, chị T yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Trọng N, sinh ngày 24/3/2013, hiện đang sống với anh C, chị T không yêu cầu nuôi con, để cháu N tiếp tục sống với anh C. Chị T không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Huỳnh Thanh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bị đơn anh Huỳnh Thanh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Chị Bùi Thị T và anh Huỳnh Thanh C tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2011, nên được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của chị T thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất hòa. Vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì với cuộc hôn nhân của anh, và qua lời khai của chị T cũng thể hiện anh, chị đã ly thân. Điều đó cho thấy anh C và chị T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T yêu cầu ly hôn là có cơ sở để chấp nhận.

[3] Về con chung: Quá trình sống chung chị T và anh C có 01 người con chung Huỳnh Trọng N, sinh ngày 24/3/2013. Chị T không yêu cầu nuôi con vì cháu N đang sống ổn định với anh C và gia đình bên nội. Qua xác minh, hiện cháu N được anh C và gia đình anh chăm sóc và giáo dục tốt. Mặt khác, cháu N sống với anh C từ nhỏ. Để không làm xáo trộn môi trường sống của cháu N nên Hội đồng xét xử giao con chung cho anh C nuôi dưỡng. Chị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

[5] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Huỳnh Thanh C được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Trọng N, sinh ngày 24/3/2013 cho anh Huỳnh Thanh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu N tròn 18 tuổi. Chị Bùi Thị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu là 300.000 đồng, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã đóng theo biên lai số 0021580 ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị T đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


25
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 86/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về ly hôn

    Số hiệu:86/2019/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Hậu Giang
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:15/11/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Án lệ được căn cứ
           
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về