Bản án 85/2019/HNGĐ-ST ngày 11/06/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 85/2019/HNGĐ-ST NGÀY 11/06/2019 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị P, sinh năm 1992 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp HH, xã THT, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp CG, xã ĐH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Trần Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào ngày 02/10/2015. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống hôn nhân không hòa hợp, không có hạnh phúc và đã sống ly thân với nhau cách nay khoảng 01 năm. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh S.

Về con chung: Chị và anh S không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết.

Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn S, nhưng anh S không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra. Tòa án nhận định:

[1] Tranh chấp giữa chị Trần Thị P và anh Nguyễn Văn S là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn S có địa chỉ cư trú tại ấp CG, xã ĐH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung của vụ án:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị P và anh Nguyễn Văn S có đăng ký kết hôn vào ngày 02/10/2015 tại Ủy ban nhân dân xã ĐH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị Trần Thị P có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị P đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh S hợp lệ đến lần thứ hai đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh S vẫn vắng mặt không lý do, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh S.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị P và anh S phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống hôn nhân không hòa hợp, không có hạnh phúc, anh chị đã sống ly thân với nhau trong thời gian dài. Anh S không có ý kiến gì đối với việc chị P xin ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị P và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị P được ly hôn với anh S.

Về con chung: Chị P xác định chị và anh S không có con chung nên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nếu sau này giữa chị P và anh S có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị P phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng, ngày 11/3/2019 chị P có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0005203 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được chuyển thu.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Trần Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 85/2019/HNGĐ-ST ngày 11/06/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:85/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về