Bản án 85/2017/HSST ngày 13/09/2017 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 85/2017/HSST NGÀY 13/09/2017 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Ngày 13/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2017/HSST, ngày 07/8/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ly A D; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1977.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Tin lành phúc âm.

Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không biết chữ. Con ông: Ly A C, sinh năm 1947.

Con bà: Giàng Thị S, sinh năm 1950.

Bị cáo có vợ: Vừ Thị K; sinh năm 1977 và có 08 người con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2001.

Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 09, ngày 29/3/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo. Bị cáo Ly A D có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Ly A D có: Ông Nguyễn Quang Khai; Luật sư - Cộng tác viên trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

* Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo - Đại diện theo pháp luật có ông Phạm Quốc Huy; Giám đốc - Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo; vắng mặt có lý do.

NHẬN THẤY

Bị cáo Ly A D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố về hành vi phạm tội như sau: Ngày 20/3/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Tuần Giáo nhận được báo cáo của ông Đinh Văn Cường - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tuần Giáo về việc: Ngày 15/3/2017 Tổ công tác của Hạt kiểm lâm huyện Tuần Giáo phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ và Ủy ban nhân dân xã Mường Khong tiến hành làm nhiệm vụ tại khu vực rừng phòng hộ thuộc khoảnh 4, 5, 8 tiểu khu 606 do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo làm chủ rừng đã phát hiện nhiều đối tượng chặt phá rừng tại 09 khu vực đều quy hoạch rừng phòng hộ, hủy hoại 272.190m2 với mức độ thiệt hại là 100%. Sau khi  xác minh đã xác định được nhiều đối tượng trong đó có đối tượng Ly A D; sinh năm 1977; trú tại bản Huổi N, xã M, huyện T đã chặt phá 4.930m2, có trữ lượng gỗ tròn, loại gỗ tạp, nhóm VI 40,392m3; củi tận thu 42,259 Ster. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ. Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Ly A D về hành vi Hủy hoại rừng để điều tra làm rõ.

Ngày 26/3/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã thành lập tổ công tác tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định Ly A D chặt phá 4.930m2 rừng phòng hộ, mức độ thiệt hại 100%.

Ngày 05/6/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tuần Giáo đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 78/QĐTC và tại Kết luận giám định số: 17/KL-GTTS, ngày 13/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản đã kết luận: Gỗ tròn, gỗ tạp từ nhóm IV có giá trị 40,392m3 × 1.800.000đ = 137.332.800đ; Củi có giá trị 42,259 Ster × 200.000đ/Ster = 8.451.800đ; tổng giá trị tài sản định giá là 145.784.600đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng).

Tại Cơ quan điều tra - Công an huyện Tuần Giáo bị cáo Ly A Dụa đã khai và thừa nhận: Vào khoảng cuối tháng 02/2017; Ly A D không nhớ rõ ngày, thấy dân bản cùng nhau lên rừng Huổi Nôm để chặt phá rừng lấy đất làm nương. Do muốn có thêm đất để làm nương trồng lương thực cho gia đình vì khó khăn nên D cũng một mình đi theo vào trong rừng thuộc khu vực Thả Núa để chặt phá rừng phòng hộ làm nương. D đã một mình dùng dao quắm và cưa máy đi lên rừng phòng hộ tự chọn lấy một khoảnh rừng chưa có ai chặt phá để tiến hành chặt phá trái phép làm nương. D một mình chặt phá rừng trong hai ngày, D không biết diện tích mình chặt phá là bao nhiêu. Sau khi phát xong, đang trong quá trình đợi cây khô để đốt nương thì đến ngày 23/3/2017, Tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo để vận động, tuyên truyền người vi phạm ra đầu thú. Đến ngày 29/3/2017, D đến Công an huyện Tuần Giáo để đầu thú. D bị khởi tố về hành vi hủy hoại rừng.

Tại bản Cáo trạng số: 65/QĐ-VKS-HS ngày 04/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Ly A D về tội Hủy hoại rừng, theo điểm b khoản 3 Điều 189 BLHS năm 1999. Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung trong quyết định truy tố và căn cứ vào tính chất mức độ của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189 và điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 để áp dụng tình tiết có lợi cho bị cáo quy định tại khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Ly A D từ 15 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ tháng 30 đến 36 tháng; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 42 BLHS năm 1999; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; buộc Bị cáo Ly A D bồi thường thiệt hại số tiền là 145.784.600đ (Một tră bốn mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng); bị cáo đã bồi thường thiệt hại được 2.000.000đ (Hai triệu đồng), bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền là 143.784.600đ (Một trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng). Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu 01 con dao quắm có chiều dài 71cm, phần thân dao dài 37cm, phần cán gỗ dài 34cm, dao đã cũ không còn giá trị sử dụng là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu để tiêu hủy. Giữ lại 2.000.000đ bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả để đảm bảo thi hành án. Áp dụng Điều 99 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị miễn án phí HSST và án phí có giá ngạch cho bị cáo Ly A D.

Tại phiên tòa, đại diện của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo vắng mặt có lý do, nhưng trong đơn đề nghị bồi thường thiệt hại đã xác định thiệt hại hoàn toàn phù hợp với số liệu có trong hồ sơ. Đề nghị bị cáo Ly A D phải bồi thường thiệt hại là 145.784.600đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng).

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Ly A D đưa ra luận cứ và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189 và điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 để áp dụng tình tiết có lợi cho bị cáo quy định tại khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Ly A D mức hình phạt thấp nhất và cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc gì về bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, bị cáo khai hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã thể hiện. Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại như Ban quản lý rừng phòng hộ yêu cầu số tiền là 145.784.600đ (Một tră bốn mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng); bị cáo đã bồi thường thiệt hại được 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở đã xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, nguyên đơn dân sự, người bào chữa cho bị cáo.

XÉT THẤY

Bị cáo Ly A D khẳng định đã được nghe tuyên truyền về việc không được chặt phá rừng phòng hộ, nhưng vì gia đình không có đất để sản xuất nên gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy từ cuối tháng 02/2017, bị cáo đã một mình đi phá rừng phòng hộ để làm nương với diện tích chặt phá là 4.930m2; cụ thể Gỗ tròn, gỗ tạp từ nhóm VI có giá trị 40,392m3 × 1.800.000đ = 137.332.800đ; Củi có giá trị 42,259 Ster × 200.000đ/Ster = 8.451.800đ; tổng giá trị tài sản định giá là 145.784.600đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng). Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai có trong hồ sơ. Từ các chứng cứ trên, Hội đồng xét xử xác định: Bị cáo Ly A D đã phạm tội Hủy hoại rừng. Tội phạm được quy định tại Điều 189 BLHS năm 1999; bởi vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Ly A D về tội danh trên là chính xác.

Xét hành vi của bị cáo thấy, bị cáo cho rằng bị cáo muốn có thêm đất nương để sản xuất lương thực cho gia đình nên bị cáo đã tự ý đi chặt phá rừng mặc dù biết đó là rừng phòng hộ đã được tuyên truyền diện tích rừng phòng hộ đó cần được bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được việc chặt phá rừng mà không có sự cho phép của cơ quan chức năng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Điều này cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình.

Xét tính chất của vụ án, hành vi chặt phá rừng của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng dăn đe, phòng ngừa việc chặt phá rừng trong tình hình hiện nay.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo không đi học chỉ ở nhà lao động sản xuất. Năm 1993 kết hôn với chị Vừ Thị K và có 08 người con. Ngày 29/3/2017 bị khởi tố về hành vi Hủy hoại rừng và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo chưa có tiền án; tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, khi gây thiệt hại bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần thiệt hại đã gây ra; khi nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật bị cáo đã ra đầu thú đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS. Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 BLHS. Tại phiên Tòa bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được đoàn tụ gia đình, bị cáo hứa không bao giờ tái phạm, nên có thể được xem xét giảm nhẹ phần nào cho bị cáo.

Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189 và điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 để áp dụng tình tiết có lợi cho bị cáo quy định tại khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Ly A D để xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo và không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo xảy ra trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực. Tuy nhiên, cần áp dụng khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và Công văn số 256/TANDTC-PC ngày 31/7/2017 để áp dụng tình tiết có lợi cho bị cáo quy định tại khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 cho bị cáo Ly A D là đúng với quy định của Pháp luật và qua đây, Hội đồng xét xử cũng để bị cáo D thấy rằng; mặc dù hành vi vủa bị cáo gây ra những thiệt hại cho tài nguyên và môi trường lẽ ra cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhưng Hội đồng xét xử thấy cần cho bị cáo được hưởng những chính sách khoan hồng của Nhà nước, mở đường cho những người có hành vi vi phạm pháp luật biết ăn năn, hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho gia đình và cộng đồng xã hội. Hơn hết là để bị cáo, nhận thức được cần bảo vệ tài nguyên môi trường ngay chính địa phương bị cáo sinh sống. Bởi vậy, cần áp dụng Điều 60 BLHS năm 1999 đối với bị cáo. Việc đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa về hình phạt chính là phù hợp, cần chấp nhận. Về hình phạt bổ sung, thấy bị cáo có khó khăn về kinh tế, nên không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Cần căn cứ vào Điều 42 BLHS năm 1999; Điều 584; Điều 585; Điều 589; Điều 357 BLDS năm 2015; buộc bị cáo Ly A D phải bồi thường cho Nhà nước số tiền là tổng giá trị tài sản định giá là145.784.600đ (Một tră bốn mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng); bị cáo đã  bồi thường thiệt hại được 2.000.000đ (Hai triệu đồng); bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền là 143.784.600đ (Một trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng).

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS tịch thu 01 con dao quắm có chiều dài 71cm, phần thân dao dài 37cm, phần cán gỗ dài 34cm, dao đã cũ không còn giá trị sử dụng là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 99 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, để miễn án phí HSST và án phí có giá ngạch cho bị cáo Ly A D.

Vì các lẽ trên, sau khi nghị án.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Ly A D đã phạm tội Hủy hoại rừng.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189 và điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015; xử phạt bị cáo Ly A D 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Ly A D cho Ủy ban nhân dân xã Mường Khong, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

3. Về bồi thường dân sự: Điều 42 BLHS năm 1999; Điều 584; Điều 585; Điều 589; Điều 357 BLDS năm 2015; buộc bị cáo Ly A D phải bồi thường cho Nhà nước số tiền là 145.784.600đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng); bị cáo đã bồi thường thiệt hại được 2.000.000đ (Hai triệu đồng), bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền là 143.784.600đ (Một trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS tịch thu 01 con dao quắm có chiều dài 71cm, phần thân dao dài 37cm, phần cán gỗ dài 34cm, dao đã cũ không còn giá trị sử dụng của Ly A D là phương tiện dùng vào việc phạm tội để tiêu hủy. Đặc điểm vật chứng được ghi theo Phiếu nhập kho số: PNKVC69 ngày 01/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

Giữ lại 2.000.000đ (Hai triệu đồng) bị cáo Ly A D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, số tiền đã tạm giữ ngày 24/5/2017 để đảm bảo việc thi hành án. Số tiền được chuyển theo Phiếu nhập kho số: PNKVC69 ngày 01/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 99 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí HSST và án phí có giá ngạch cho bị cáo Ly A D.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (tức ngày 13/9/2017). Nguyên đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo phần bồi thường thiệt hại của bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


113
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về