Bản án 83/2019/HSST ngày 14/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 83/2019/HSST NGÀY 14/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Uông Bí công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2019/HSST ngày 10/07/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 80/QĐXX ngày 30/7/2019 đối với bị cáo:

Phạm Hồng S; Tên gọi khác: không có; sinh ngày: 16/9/1996. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 1 C43 đường V, phường C, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Th và bà Nguyễn Thị H; Gia đình có 2 anh em bị cáo là con thứ nhất. Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 03/5/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: 

+ Anh Nguyễn Minh K: Sinh năm 1988.

HKTT: 8B/450. Đường Đ, phường H, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Anh Nguyễn S T: Sinh năm 1988.

HKTT: 6/4B Đường P, phường G, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

+ Anh Hà Xuân M, sinh năm 1959, nơi cư trú: Tổ 9, khu 3, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

+ Anh Lại Văn P , sinh năm 1979, nơi cư trú: Tổ 26, khu 7, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21h20 phút, ngày 03/5/2019, tại tổ 29D, khu 8, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Tổ công tác Phương án 12 công an TP. Uông Bí khi làm nhiệm vụ đã kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu KIA loại RIO mầu xám, biển kiểm soát 15A-29781 do Phạm Hồng S điều khiển, phát hiện, bắt quả tang Phạm Hồng S cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 ví giả da của S để trên ghế phụ, phía trước của xe ô tô,bên trong ví có một phong bì màu đỏ chứa 01 túi nilon kích thước (3x3)cm, chứa chất tinh thể màu trắng (M1); 01 túi nilon kích thước (3x3)cm bên trong có 02 viên và một mảnh viên nén hình trụ tròn, màu xanh (M2).Ngoài ra còn thu giữ của S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cùng sim số 0986.822.623; và 3.080.000 đồng; 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Hồng S và 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA biển kiểm soát 15A-297.81 cùng giấy tờ xe.

Tại kết luận giám định 361/GĐMT, ngày 06/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon ký hiệu M1 là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 0,718g (Không phảy bảy một tám gam); 02 viên nén và mảnh vỡ viên nén hình trụ tròn màu xanh trong túi nilon ký hiệu M2 là ma túy loại MDMA có tổng khối lượng: 0,821g (Không phảy tám hai một gam).

Quá trình điều tra Phạm Hồng S khai nhận: Đêm ngày 02.5.2019, S thuê xe ô tô tự lái nhãn hiệu KIA loại RIO, biển số 15A-29781của anh Nguyễn Minh K, trú tại đường Đ, phường H, quận Hải An, thành phố Hải Phòng để chở bạn tên là T và Th cùng ở Hải Phòng đi sinh nhật bạn mới quen của S tên là P ở thành phố Hạ Long. Khoảng 01h ngày 3.5.2019, cả 3 đến quán “Phan Tôm” thuộc phường Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh. Tại đây, trong lúc dự sinh nhật, P đã mời S sử dụng ma túy loại “ke”. Đến khoảng 6 giờ cùng ngày, P đưa cho S 01 phong bì mầu đỏ và nói “trong đó có đồ, về khách sạn mà chơi” S hiểu ý P cho ma túy để sử dụng nên cất phong bì vào ví của mình. Sau đó, P dẫn S, T, Th đến nhà nghỉ tại Bãi Cháy, Hạ Long để nghỉ. Đến 21h ngày 03/5/2019, S một mình điều khiển xe ô tô về Hải Phòng, khoảng 21h20 phút, khi đi đến đường nội thị thuộc phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thì bị lực lượng công an dừng xe kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Bn Cáo trạng số 80/KSĐT-HS ngày 9/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Hồng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Hồng S từ 15 (Mười năm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 03/05/2019.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a khoản 2, khoản 3 điều 106 bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

+ Tịch thu,tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 361/GĐMT ngày 06/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cùng sim số 0986.822.623, 01 ví giả da màu xám và 3.080.000 đồng thu giữ của bị cáo S không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại bị cáo .

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận: Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người đúng tội, không oan, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh Lại Văn P, anh Hà Xuân M là những người chứng kiến trong quá trình điều tra cơ quan công an bắt giữ S, thu giữ vật chứng, mặc dù vắng mặt tại phiên tòa xong lời khai của họ tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa xong lời khai của họ tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa.hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định, tài liệu, chứng cứ, của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tài liệu chứng cứ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập sử dụng tại phiên tòa của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo Phạm Hồng S:

Lời khai của bị cáo Phạm Hồng S tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Hồi 21giờ 30 phút, ngày 03/5/2019, tại tổ 29D, khu 8, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Hồng S bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép02 chất ma túy, trong đó loại Ketamine có khối lượng 0,718g (Không phảy bảy một tám gam); loại MDMA có khối lượng 0,821g (Không phảy tám hai một gam), mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng Bị cáo Phạm Hồng S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Ma túy thu giữ của bị cáo thuộc trường hợp các chất ma túy đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất theo quy định tại khoản 2 của Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có ít nhất một chất ma túy có khối lượng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 của Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02.02.2018 của Chính phủ “Qui định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của bộ luật hình sự 2015” để tính tỉ lệ phần trăm các chất ma túy thu được của bị cáo, từ đó xác định chính xác khung hình phạt và có căn cứ để xác định mức hình phạt đối với bị cáo, cụ thể: Khối lượng MDMA thu giữ của bị cáo là 0,821g (Không phảy tám hai một gam), so sánh với mức tối thiểu của khoản 2 Điều 249 với định lượng 5g (Năm gam) là 16,42%; Khối lượng Ketamine thu giữ của bị cáo là 0,718g (Không phảy bảy một tám gam), so sánh với mức tối thiểu của khoản 2 Điều 249 với định lượng 20g (Hai mươi gam) là 3,59%. Tổng tỉ lệ phần trăm hai chất ma túy thu giữ của bị cáo là 20,01%. Như vậy, tỉ lệ khối lượng hai chất ma túy thu giữ của bị cáo thuộc quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Từ phân tích trên đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Hồng S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo và lời luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về hình phạt chính Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

....

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

Tình tiết tăng nặng: Không có Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cần có một hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phạm Hồng S là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên P bị cáo khai cho bị cáo ma túy để sử dụng quá trình điều tra cơ quan điều tra không xác định được lai lịch vụ thể nên không đề cập xử lỵ

[5] Về xử lý vật chứng:

+ Chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA loại RIO, biển số 15A-29781cùng giấy tờ liên quan và 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Phạm Hồng S không liên quan đến việc phạm tội Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô trên cho chủ sở hữu, trả lại giấy phép lái xe ô tô cho gia đình bị cáo nên không đề cập giải quyết.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cùng sim số 0986.822.623, 01 chiếc ví giả da màu sám và 3.080.000đ (Ba triệu không trăm tám mươi ngàn đồng) thu giữ của bị cáo S, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

- Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’.

Xử phạt: Phạm Hồng S 15 (Mười năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 03/05/2019.

2. Áp dụng: Điểm a khoản 2,điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 361/GĐMT ngày 06/05/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

+ Trả lại bị cáo Phạm Hồng S 01 chiếc ví giả da màu sám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cùng sim số 0986.822.623 và 3.080.000đ (Ba triệu không trăm tám mươi ngàn đồng) nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2019 giữa Công an TP. Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự TP Uông Bí).

3. Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Hồng S phải nộp vào ngân sách nhà nước 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


30
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về