Bản án 83/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 83/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2019 VỀ LY HÔN 

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Văn L, sinh năm 1965 (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1971.

Cùng trú tại: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 bà Nguyễn Thị Ch có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 8 năm 2019 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trương Văn L trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Ch tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1992, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy mâu thuẫn do thường xuyên cự cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2009 đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn mang lại hành phúc nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ch. Trong quá trình chung sống ông và bà Ch có hai người con chung tên Trương Quốc V, sinh năm 1992 đã chết năm 2017 và Trương Nhược Nh, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2000. Con chung đã Trưởng thành và có khả năng lao động để nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 08 tháng 8 năm 2019 bị đơn bà Nguyễn Thị Ch trình bày: Bà và ông Trương Văn L tự nguyện chung sống với nhau năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên ông L yêu cầu ly hôn bà đồng ý ly hôn với ông Trương Văn L. Về con chung: Có hai người con chung tên Trương Quốc V, sinh năm 1992 và Trương Nhược Nh, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2000. Đối với Trương Quốc V đã chết vào năm 2017, Trương Nhược Nh đã trưởng thành và đủ khả năng lao động để nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Trương Văn L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Nguyễn Thị Ch. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị Ch là bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Ch.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Văn L và bà Nguyễn Thị Ch tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa ông L và bà Ch không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trương Văn L và bà Nguyễn Thị Ch.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống ông L và bà Ch có hai người con chung tên Trương Quốc V, sinh năm 1992 và Trương Nhược Nh, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2000. Đối với Trương Quốc V đã chết vào năm 2017, Trương Nhược Nh đã trưởng thành và có đầy đủ khả năng để lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung ông L và bà Ch không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông L phải chịu 300.000đ, ông L đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điêu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 9, Điều 14; Điều 15; Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trương Văn L và bà Nguyễn Thị Ch.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí: Ông Trương Văn L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019353 ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; ông L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, ông Trương Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Nguyễn Thị Ch có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về ly hôn

Số hiệu:83/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về