Bản án 824/2019/HNGĐ-ST ngày 01/11/2019 về ly hôn giữa bà T và ông Q

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 824/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/11/2019 VỀ LY HÔN GIỮA BÀ T VÀ ÔNG Q

Ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 591/2019/TLST-HNGĐ ngày 20/8/2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 430/2019/QĐXX-ST ngày 04/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2019/QĐST-HPT ngày 24/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu T., sinh năm 1965; (có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Châu Nhựt Q., sinh năm 1962 (vắng mặt)

Cùng HKTT: ấp 3, phường Y, Quận A, TP.HCM.

Cùng tạm trú: đường B, Phường C, Quận D, TPHCM

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 08/8/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu T. trình bày: Bà và ông Q. tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992, có đăng ký kết hôn (giấy chứng nhận kết hôn số17, quyển số 01/92, ngày 07/5/1992 do UBND xã Thủ Thiêm, huyện Thủ Đức, TP.HCM cấp), có hai con chung tên Châu Nhựt V., sinh ngày 24/9/1994 và Châu Nhựt V1, sinh ngày 13/3/1997.

Theo bà T. trình bày vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 nguyên nhân do tính cách hai bên không phù hợp dẫn đến thường xuyên cãi vã nhưng vì con cái hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không cải thiện được mối quan hệ. Thực chất sống chung nhà nhưng không tìm được tiếng nói chung nên đã tự sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, bà xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông Châu Nhựt Q..

Về con chung: Đã trưởng thành

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T. xác định không có.

Phía bị đơn ông Châu Nhựt Q. đã được Tòa án triệu tập đến Tòa để trình bày ý kiến về việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Ti phiên tòa, nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu T. vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Bị đơn ông Châu Nhựt Q. vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đúng thẩm quyền xét xử, việc tống đạt các thông báo, giấy triệu tập, quyết định… của Tòa cho các đương sự hợp lệ, đúng với quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn, đúng địa điểm, thành phần, đảm bảo thời gian luật quy định, thành phần những người tiến hành tố tụng không thuộc trường hợp phải thay đổi. Xét thấy, theo lời trình bày của bà T. thì giữa bà và ông Q. đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 nhưng đến nay vẫn không hàn gắn được, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Đoàn Thị Thu T. được ly hôn với ông Châu Nhựt Q.. Về con chung: đã trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung: bà T. xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Hình thức, nội dung đơn yêu cầu ly hôn của bà Đoàn Thị Thu T. thực hiện đúng quy định tại các Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2]. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu T. đối với bị đơn ông Châu Nhựt Q. có nơi cư trú tại Quận D nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[3]. Quan hệ hôn nhân giữa bà Đoàn Thị Thu T. và ông Châu Nhựt Q. có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp.

[4]. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:

Nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu T. trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 do không còn hòa hợp nhau về mọi mặt, đã cố hàn gắn vì các con nhưng vẫn không hòa giải được, không có niềm tin dành cho nhau nên thường xảy ra gây cãi, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà xác định tình cảm không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Châu Nhựt Q..

Phía bị đơn ông Châu Nhựt Q. vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...” nhưng qua lời trình bày của nguyên đơn thì giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai đã không có có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau vun đắp cho cuộc sống gia đình. Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng bà T., ông Q. hàn gắn tình cảm, trở về đoàn tụ, tuy nhiên, phía bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án dù đã được triệp tập hợp lệ, chứng tỏ bị đơn không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

[5]. Về con chung: đã trưởng thành [6]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đoàn Thị Thu T. xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đoàn Thị Thu T. là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bà Đoàn Thị Thu T. và ông Châu Nhựt Q. được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đoàn Thị Thu T. và ông Châu Nhựt Q. (Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01/92, ngaøy 07/5/1992 do UBND xã Thủ Thiêm, huyện Z, TP.HCM cấp không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).

2. Về con chung: đã trưởng thành 3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Đoàn Thị Thu T. xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: là 300.000 đồng bà Đoàn Thị Thu T. phải chịu; nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011503 ngày 20/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đoàn Thị Thu T đã nộp đủ án phí.

5. Bà Đoàn Thị Thu T. được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Châu Nhựt Q. có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 824/2019/HNGĐ-ST ngày 01/11/2019 về ly hôn giữa bà T và ông Q

Số hiệu:824/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 6 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 01/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về