Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 12/04/2019 về ly hôn giữa chị H và anh K

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 14/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/04/2019 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ H VÀ ANH K

Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 348/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng12 năm 2018 về tranh chấp “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1970, (có mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện H, tỉnh T.

- Bị đơn: Anh Lê Văn K, sinh năm 1963

Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện H, tỉnh T.

(Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 05-11-2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn K kết hôn với nhau là do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) xã L, huyện H, tỉnh T vào tháng 02-2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng lấy nhau lâu nhưng không có con từ đó dẫn đến trong cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Tháng 02-2015, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ sinh sống ở thôn V, xã C và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.

Về nuôi con chung: Chị và Anh K không có con chung.

Về chia tài sản chung: Chị và Anh K không có tài sản chung, không vay nợ ai.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20-3-2019, bị đơn anh Lê Văn K trình bày:

Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Đỗ Thị H do tự nguyện, có đăng ký kết hôn hôn tại UBND xã L, huyện H, tỉnh T vào tháng 02-2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, điều kiện kinh tế khó khăn nên trong cuộc sống vợ chồng xảy ra cãi nhau. Tháng 02-2015, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân từ đó. Nay chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh cũng nhất trí đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị H ly hôn.

Về nuôi con chung: Anh và chị H Không có con chung

Về chia tài sản chung: Anh và chị H không có tài sản chung, vợ chồng không vay nợ ai.

Ngày 20-3-2019, Anh K đã viết đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giải quyết và xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, chị H, Anh K đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: đề nghị xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Lê Văn K; về nuôi con chung: Không có; về chia tài sản: Chị H và Anh K không có tài sản chung. Chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ ánChị Đỗ Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn K. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Ly hôn”. Anh K hiện nay đang cư trú tại thôn K, xã L, huyện H, tỉnh T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Anh K có mặt tại địa phương và đã được Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; Anh K có đơn xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa xét xử nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án và vẫn đưa vụ án ra xét xử vắng mặt Anh K theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Lê Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Liên Hiệp. Huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào tháng 02-2009, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp, điều kiện kinh tế khó khăn, vợ chồng lấy nhau lâu nhưng không có con nên trong cuộc sống vợ chồng xảy ra va chạm cãi nhau. Tháng 02-2015, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Hội đồng xét xử thấy: vợ chồng chị H và Anh K sống ly thân đã lâu, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị H được ly hôn Anh K là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về nuôi con chung: Chị H và Anh K không có con chung.

[5] Về chia tài sản: Chị H và Anh K không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Lê Văn K.

2. Về nuôi con chung: Chị H và Anh K không có con chung.

3. Về chia tài sản: Chị H và Anh K không có tài sản chung.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0005330 ngày 27-12-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị H đã nộp đủ).

5. Quyền kháng cáo: Chị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã L, huyện H, tỉnh T.


99
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 12/04/2019 về ly hôn giữa chị H và anh K

Số hiệu:14/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hưng Hà - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về