Bản án 823/2019/HNGĐ-ST ngày 01/11/2019 về ly hôn giữa bà T và ông H

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 823/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/11/2019 VỀ LY HÔN GIỮA BÀ T VÀ ÔNG H

Ngày 01 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 504/2019/TLST-HNGĐ ngày 18/7/2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 431/2019/QĐXX-ST ngày 04/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2019/QĐST-HPT ngày 24/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1977; (có đơn xin vắng mặt)

HKTT: 710/35/25 đường H., Phường 12, Quận D, TP.HCM

Bị đơn: Ông Quách Văn H, sinh năm 1974 (vắng mặt)

HKTT: 157/23A đường T., Phường 4, Quận D, TP.HCM.

Cùng tạm trú: 18 đường số A. KDC B., Phường 11, Quận D, TPHCM

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 09/7/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Thị Thu T. trình bày: Bà và ông H. tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999, có đăng ký kết hôn (giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/1999, ngày 23/8/1999 do UBND Phường 4, Quận 6 cấp), có ba con chung tên Quách Gia H., sinh ngày 07/8/2000, Quách Gia M., sinh ngày 19/12/2006 và Quách Gia K., sinh ngày 14/6/2013.

Theo bà T. trình bày vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017 nguyên nhân do tính cách hai bên không phù hợp dẫn đến thường xuyên cãi vã.

Ông H. sống không có trách nhiệm với vợ con không lo cho gia đình, ngoài ra ông H. sống không chung thủy với vợ, có mối quan hệ bên ngoài. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng vẫn không được, hai bên đã sống ly thân 02 năm nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, bà xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông Quách Văn H..

Về con chung: bà Trần Thị Thu T. yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con tên Quách Gia M., sinh ngày 19/12/2006 và Quách Gia K., sinh ngày 14/6/2013 không yêu cầu ông H. cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T. xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn ông Quách Văn H. đã được Tòa án triệu tập đến Tòa để trình bày ý kiến về việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Ti phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Thu T. vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Bị đơn ông Quách văn H. vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đúng thẩm quyền xét xử, việc tống đạt các thông báo, giấy triệu tập, quyết định… của Tòa cho các đương sự hợp lệ, đúng với quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn, đúng địa điểm, thành phần, đảm bảo thời gian luật quy định, thành phần những người tiến hành tố tụng không thuộc trường hợp pH. thay đổi. Xét thấy, theo lời trình bày của bà T. thì ông H. ngoài việc sống không có trách nhiệm với gia đình mà còn ngoại tình, hai bên đã sống ly thân 02 năm nay chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Trần Thị Thu T. được ly hôn với ông Quách Văn H., giao 02 con chung cho bà T. trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T. không yêu cầu ông H. cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: bà T. xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Hình thức, nội dung đơn yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thu T. thực hiện đúng quy định tại các Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2]. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Thu T. đối với bị đơn ông Quách Văn H. có nơi cư trú tại Quận 6 nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[3]. Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thu T. và ông Quách Văn H. có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp.

[4]. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:

Nguyên đơn bà Trần Thị Thu T. trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2017 do không còn hòa hợp nhau về mọi mặt, ông H. sống không có trách nhiệm với gia đình, ngoài ra còn có mối quan hệ bên ngoài, nên hai bên thường xảy ra gây cãi, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà xác định tình cảm không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Quách Văn H.

Phía bị đơn ông Quách Văn H. vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...” nhưng qua lời trình bày của nguyên đơn thì giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai đã không có có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau vun đắp cho cuộc sống gia đình, ngoài ra ông H. còn có hành vi sống không chung thủy. Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng bà T., ông H. hàn gắn tình cảm, trở về đoàn tụ, tuy nhiên, phía bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án dù đã được triệp tập hợp lệ, chứng tỏ bị đơn không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

[5]. Về con chung: Bà Trần Thị Thu T. yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung Quách Gia M., sinh ngày 19/12/2006 và Quách Gia K., sinh ngày 14/6/2013 đến khi thành niên, không yêu cầu ông H. cấp dưỡng nuôi con vì từ trước đến nay hai cháu vẫn sống chung với bà, bà là người đưa đón con đi học. Do ông H. vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai con chung cho bà Trần Thị Thu T. trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, ghi nhận sự tự nguyện của bà T. không yêu cầu ông H. cấp dưỡng nuôi con.

[6]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thu T. xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu T. là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Thu T. và ông Quách Văn H. được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Thu T. và ông Quách Văn H.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/1999, ngày 23/8/1999 do UBND Phường 4, Quận D cấp không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).

2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung Quách Gia M., sinh ngày 19/12/2006 và Quách Gia K., sinh ngày 14/6/2013 cho bà Trần Thị Thu T. trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T. không yêu cầu ông H. cấp dưỡng nuôi con.

Ông Quách Văn H. có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với bà Trần Thị Thu T. .

Bà Trần Thị Thu T. pH. tạo mọi điều kiện cho ông Quách Văn H. khi đến thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì quyền và lợi ích của con, khi cần thiết thì một hoặc cả hai bên đều có quyền thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp ông Quách Văn H. lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Trần Thị Thu T. có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Quách Văn H..

3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Trần Thị Thu T. xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: là 300.000 đồng bà Trần Thị Thu T. pH. chịu; nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011404 ngày 18/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Thu T. đã nộp đủ án phí.

5. Bà Trần Thị Thu T. được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Quách Văn H. có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH. thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 823/2019/HNGĐ-ST ngày 01/11/2019 về ly hôn giữa bà T và ông H

Số hiệu:823/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 6 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 01/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về