Bản án 77/2019/HS-ST ngày 27/08/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 77/2019/HS-ST NGÀY 27/08/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 539/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 609/2019/HSST-QĐ ngày 20 ngày 8 năm 2019 đối với các bị cáo:

Trần Văn G, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Thôn AN, xã AL, huyện TN, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị K1; có vợ là Cù Thị Minh H1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 05/6/2018, tạm giữ từ ngày 06/6/2018 đến ngày 12/06/2018 chuyển tạm giam; có mặt.

Nguyễn Thị H, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1963 tại Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Số 15/380 TH, phường HN, quận LC, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số 123/44 TNH, phường TNH, quận LC, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; có chồng là Đỗ Đức L và 03 con; tiền án, tiền sự: 01 tiền án (Án số 117/2010/HSST ngày 17/12/2010, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; nhân thân: 01 tiền án đã được xóa (Án số 332/HSST ngày 21/12/2004, Tòa án nhân dân quận LC xử phạt 60 tháng tù về tội “Tàng trữ trá phép chất ma túy); bị bắt ngày 05/6/2018, tạm giữ từ ngày 06/6/2018 đến ngày 12/06/2018 chuyển tạm giam; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn G: Ông Nguyễn Xuân Tứ - Luật sư của Văn phòng Luật sư 13 - 5 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Bà Nguyễn Thị Hiền – Luật sư của Văn phòng Luật sư Lam Sơn thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; vắng mặt. Bị cáo H từ chối Luật sư tại phiên tòa và tự mình thực hiện quyền bào chữa.

Người làm chứng và chứng kiến: Đỗ Ngọc T, Cù Thị Minh H1, Đỗ Văn H2, Đỗ Thị Huyền T1, Lê Thị T2, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 10 phút ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại khu vực đầu ngõ 175 đường NĐC, phường CD, quận LC, thành phố Hải Phòng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Phòng phát hiện, bắt quả tang Trần Văn G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, BKS 15G1-561.72 chở theo Nguyễn Thị H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, Cơ quan Công an thu giữ tại túi quần phía trước, bên phải G đang mặc 03 túi nilon màu trắng, trong có chứa tinh thể màu trắng, qua giám định là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 29,68 gam; thu tại túi quần phía trước, bên trái G đang mặc 02 túi nilon màu trắng trong có chứa tinh thể màu trắng, qua giám định là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,67 gam; thu trong cốp xe mô tô G đang sử dụng gồm 01 túi nilon màu trắng, kích thước 5x8cm trong có 6 túi nilon có chứa tinh thể màu trắng, qua giám định là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 1,65 gam; 01 ví nhỏ màu đen có khóa kéo, trong có 22 túi nilon nhỏ màu trắng đựng tinh thể màu trắng, qua giám định là ma túy Methamphetamine, khối lượng 6,99 gam; 01túi nilon màu trắng có chứa tinh thể màu trắng, qua giám định là ma túy Methamphetamine, khối lượng 24,52 gam. Tổng số là 63,51 gam ma túy Methamphetamine. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của Trần Văn G 02 cân điện tử đã qua sử dụng, 02 điện thoại di động đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Sh Mode, BKS 15G1-561.72 và 250.000 đồng; thu giữ trong túi áo khoác bên phải (áo chống nắng) của H đang mặc 14.500.000 đồng; thu trong túi xách tay dạng dây đeo, có khóa của H đang cầm 35.450.000 đồng, 01 tờ giấy có ghi tiền nợ, 01 quyển sổ tay cá nhân và 01 điện thoại di động đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại nhà số 123/44 đường TNH, quận LC, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ trong tủ vải màu hồng ở trên gác xép (là tủ đựng quần áo của Đỗ Thị Huyền T1, sinh năm 1998, là con gái của H và sống chung với H) 01 lọ nhựa màu xanh, bên trong có 01 túi nilon màu trắng có mép khóa, kích thước 5x7 cm, bên trong có 03 túi nilon màu trắng có mép khóa, kích thước mỗi túi 2x2 cm, bên trong đều có tinh thể màu trắng, qua giám định là ma túy Ketamine, có khối lượng 1,46 gam; thu giữ tại ô thoáng cạnh giường ngủ của H 01 túi xách màu xanh có quai đeo bằng kim loại màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng có mép khóa, kích thước 7x15 cm, trong túi nilon này có chứa nhiều vỏ túi nilon màu trắng có mép khóa, kích thước 5x7 cm.

Quá trình điều tra, Trần Văn G khai nhận: Do bản thân là người sử dụng ma túy nên G thường mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, nếu có người hỏi mua thì G sẽ bán để kiếm lời. G thường mua ma túy của những người không quen biết tại khu vực đường tàu TNH. Sáng ngày 05 tháng 6 năm 2018, trong khi G còn khoảng hơn 30 gam ma túy Methamphetamine thì có một người thanh niên gọi điện cho G, xưng tên là T3 ở khu vực xã TĐ, huyện TN gọi điện thoại cho G đặt mua 50 gam ma túy Methamphetamine với giá 28.000.000 đồng. Đến khoảng gần 14 giờ cùng ngày, khi chị Cù Thị Minh H1 là vợ của G đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Sh Mode, BKS 15G1 – 561.72 về nhà, G hỏi mượn chị H1 xe đi có việc rồi lấy toàn bộ số ma túy G đang có cùng 02 cân điện tử cất vào trong cốp xe và túi quần phía trước bên trái G đang mặc. G gọi điện thoại cho Nguyễn Thị H đặt mua 30 gam ma túy Methamphetamine với giá 15.000.000 đồng để thêm vào bán cho T3. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, G một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, BKS 15G1-561.72 sang khu vực đường tàu TNH để gặp H mua ma túy. Khi gặp H, G đã đưa cho H 14.500.000 đồng, H không đếm tiền mà cất vào túi áo khoác bên phải H đang mặc rồi đưa cho G một bọc nhỏ và nói với G “3 túi 10 đấy” (nghĩa là 3 túi ma túy Methamphetamine, mỗi túi có khối lượng 10 gam), G cầm bọc ma túy cất vào trong túi quần phía trước, bên phải G đang mặc rồi chở H đi ra khu vực cầu Quay, khi ra tới đầu ngõ 175 đường NĐC thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.

Nguyễn Thị H khai nhận phù hợp với lời khai của Trần Văn G về việc H bán ma túy cho G như trên. Về nguồn gốc số ma túy, theo H khai báo, sau khi G gọi điện cho H để hỏi mua ma túy, H một mình đi bộ ra khu vực đường tàu TNH, gặp một người phụ nữ không quen biết mua 30 gam ma túy Methamphetamine với giá 450.000 đồng/1 gam. Ngoài ra H còn mua thêm 500.000 đồng ma túy Ketamine được 03 túi nilon nhỏ. Số ma túy Ketamine H mang về cất giữ tại tủ quần áo của Đỗ Thị Huyền T1 để nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời. Số ma túy Methamphetamine, H đã bán cho G và bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Đối với đối tượng tên Tuấn, theo G khai báo là người đặt mua ma túy của G; những người đã bán ma túy cho G và người phụ nữ đã bán ma túy cho H, hiện chưa xác minh được lý lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS-P1 ngày 25 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình cơ bản như bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, Kiêm sat viên vân giư nguyên quan điêm truy tô các bị cáo như nôi dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Văn G: Từ 16 năm đến 17 năm tù. Phạt tiền: Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Thị H: Từ 16 năm đến 17 năm tù. Phạt tiền: Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn G: Luật sư không tranh luận về tội danh và điều luật mà Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo tham gia quân đội; gia đình bị cáo hoàn cảnh rất khó khăn, mẹ già, con nhỏ; nhân thân bị cáo tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên.

Bị cáo G không bổ sung quan điểm của Luật sư; các bị cáo đều không tranh luận với Kiểm sát viên và nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn G, Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

[3] Vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại khu vực đầu ngõ 175 đường NĐC, phường CD, quận LC, thành phố Hải Phòng, Trần Văn G đã có hành vi cất giữ trái phép tổng số 63,51 gam Methamphetamine để nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời. Trong số ma túy bị thu giữ, Trần Văn G mua của Nguyễn Thị H 29,68 gam Methamphetamine với giá 14.500.000 đồng. Ngoài ra, khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại số 123/44 TNH, quận LC, thành phố Hải Phòng thu giữ thêm 1,46 gam Ketamine nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời. Do đó, đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trần Văn G, Nguyễn Thị H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, mặt khác, ma túy vẫn đang là hiểm họa của toàn cầu, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[5] Bị cáo Trần Văn G mua bán trái phép 63,51 gam ma túy, qua giám định là ma túy Methamphetamine nên bị cáo bị xét xử theo điểm b khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

[6] Bị cáo Nguyễn Thị H mua bán trái phép 29,68 gam Methamphetamine và 1,46 gam Ketamine. Theo hướng dẫn tại Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 98,92%; tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy ở thể rắn so với mức tối thiểu tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 1,46%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng so với mức tối thiểu của từng chất tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 100,38% (tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng so với mức tối thiểu của từng chất tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 30,16% nên chưa đủ lượng để xét xử bị cáo theo khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự). Do đó, bị cáo Nguyễn Thị H bị xét xử theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Bị cáo Nguyễn Thị H đã có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm nguy hiểm, bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo Trần Văn G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Bị cáo H, G sau khi bị bắt đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo G có bố tham gia kháng chiến chống Mỹ, hiện là Hội viên cựu chiến binh Việt Nam, được tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ Trường Sơn đường Hồ Chí Minh. Do đó, bị cáo G và H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo G được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, tuy nhiên, căn cứ lượng ma túy bị cáo G mua bán và nhân thân bị cáo H cần phải xử các bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Mặc dù, lượng ma túy bị cáo H mua bán ít hơn bị cáo G nhưng nhân thân bị cáo H xấu và có ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn bị cáo G nên cần xử phạt 2 bị cáo mức án ngang nhau.

[9] Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo G, H để sung quỹ Nhà nước.

[10] Đối với quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn G, Hội đồng xét xử chấp nhận các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng căn cứ vào lượng ma túy bị cáo đã mua bán trái phép, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

- Về thu lợi bất chính:

[11] Bị cáo G, H mua ma túy để bán nhằm mục đích kiếm lời, tuy nhiên, không có căn cứ để xác định số tiền thu lợi bất chính bị cáo đã hưởng lợi là bao nhiêu nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

- Về xử lý vật chứng:

[12] Đối với 02 phong bì niêm phong các chất ma túy: Đây là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[13] Đối với 02 cân điện tử, 01 ví nhỏ, 02 túi xách, 01 quần dài và một số vỏ túi nilon: Các bị cáo sử dụng để chia ma túy và cất giấu ma túy, dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[14] Đối với 01 tờ giấy và 01 quyển số viết tay thu của bị cáo H, đây là giấy ghi nợ và sổ theo dõi thu họ của bị cáo H, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, tuy nhiên bị cáo không đề nghị nhận lại, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[15] Đối với 03 điện thoại di động bị thu giữ: Các bị cáo đều sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu phát mại, sung quỹ Nhà nước.

[16] Đối với số tiền 50.200.000 đồng, trong đó: Thu giữ của bị cáo G 250.000 đồng không liên quan đến việc mua bán ma túy của các bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo; thu giữ của bị cáo H 49.950.000 đồng, trong đó, 14.500.000 đồng là tiền mua bán ma túy mà có cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước; 35.450.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

- Về án phí và quyền kháng cáo:

[17] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn G; xử phạt: 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2018.

Phạt tiền bị cáo 10.000.000 (Mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thị H; xử phạt: 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2018.

Phạt tiền bị cáo 10.000.000 (Mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu, tiêu hủy: 02 (Hai) cân điện tử, 01 (Một) ví nhỏ, 02 (Hai) túi xách, 01 (Một) quần dài và một số vỏ túi nilon; 01 (Một) tờ giấy; 01 (Một) quyển sổ viết tay

- Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước: 03 (Ba) điện thoại di động

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H: Số tiền 35.450.000 (Ba mươi lăm triệu, bốn trăm năm mươi nghìn) đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 14.500.000 (Mười bốn triệu, năm trăm nghìn) đồng

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn G số tiền 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo G.

(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/8/2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và Biên lai thu tiền số 0001432 ngày 26/8/2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về