Bản án 77/2019/HS-ST ngày 10/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 77/2019/HS-ST NGÀY 10/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2019/HSST-QĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy C; sinh ngày 13/10/1981, tại Tiền Giang; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: xx Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường x, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Chỗ ở: xxx Nguyên Hồng, Phường x, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kế toán trưởng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nh và bà Đỗ Thị Kim H; bị cáo có vợ tên là Vũ Ngọc O và có hai con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/4/2019; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Mao Kim B, sinh năm 1991; địa chỉ: x lô x chung cư Ấn Quang, Phường x, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Hoàng Trung T, sinh năm 1972; địa chỉ: xxxx Lê Đình Cẩn, phường xx, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty Cổ phần Bao bì nhựa và hóa chất XXX – do bà Trần Thị Ngọc N, sinh năm 1962, là người đại diện theo pháp luật; địa chỉ: x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đối tượng Nguyễn Duy C là kế toán trưởng của Công ty Cổ phần Bao bì nhựa và hóa chất XXX (trụ sở số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11; do bà Trần Thị Ngọc N làm giám đốc). Vào ngày 25/4/2019, bà N phân công bà Mao Kim B (là thủ quỹ của Công ty Cổ phần Bao bì nhựa và hóa chất XXX) đi rút tiền tại Ngân hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Lê Đại Hành, để chi trả tiền phụ cấp cho công nhân tại khu công nghiệp Hố Nai, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Ngoài ra, bà N còn phân công đối tượng Nguyễn Duy C đi cùng để hỗ trợ cho bà B.

Vào khoảng 11 giờ ngày 25/4/2019, ông Hoàng Trung T (là lái xe của Công ty Cổ phần Bao bì nhựa và hóa chất XXX) điều khiển xe ô tô biển số 51A-93937 chở bà B và đối tượng C đến Ngân hàng TMCP Á Châu tại địa chỉ 331 Lê Đại Hành, Phường 13, Quận 11 để thực hiện giao dịch. Khi đến nơi, bà B đi vào phía trong Ngân hàng để thực hiện giao dịch và có để lại ở hàng ghế sau của xe ô tô biển số 51A-93937, cạnh nơi đối tượng C đang ngồi hai cọc phong bì bao gồm khoảng 80 cái, bên trong có đựng tiền. Sau đó, ông T rời xe đi ăn cơm. Lúc này, bên trong xe chỉ có một mình đối tượng C nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trong phong bì. Đối tượng C lấy một phong bì chứa tiền, bên ngoài có ghi tên Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr, sau đó giấu dưới đùi trái của C. Khi bà B và ông T quay lại xe ô tô thì cả hai vẫn không biết sự việc trên. Khi cả ba người đi đến Ngân hàng Đầu tư và Phát Triển Việt Nam ở phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì bà B đi vào bên trong để giao dịch. Lúc này, đối tượng C lấy phong bì chiếm đoạt được bỏ vào túi quần sau bên trái rồi đi vào nhà vệ sinh của Ngân hàng và lấy ra đếm được số tiền là 29.595.000 đồng. Sau đó, đối tượng C đi ra ô tô và cùng bà B, ông T đến quán trà sữa Macha ở ấp Thanh Hóa, xã Hố Nai, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai ăn uống, nghỉ ngơi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bà Nguyễn Kim Tn và bà Phạm Thị Đ, là những nhân viên cũ của Công ty XXX cũng đến và cùng ngồi uống trà sữa. Đối tượng C mượn xe máy của bà Đổi nói là đi công việc và đã đi đến Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam ở xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để gửi số tiền chiếm đoạt được, nộp vào hai tài khoản của C mở tại Ngân hàng với tổng số tiền là 23.000.000 đồng. Sau đó, đối tượng C đến cửa hàng FPT Shop tại ngã ba Trị An đóng tiền nợ trả góp với tổng số tiền là 5.143.000 đồng, số tiền còn lại, C cất vào bóp rồi chạy xe về gặp bà B và ông T. Đối tượng C thanh toán tiền ăn trưa hết 387.000 đồng, còn lại 1.065.000 đồng, C giữ trong người. Sau đó, cả ba người cùng đi đến chi nhánh của Công ty XXX tại khu công nghiệp Hố Nai, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Lúc này, bà B phát hiện bị mất phong bì để tiền của công nhân Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr nên trình báo Đồn Công an khu công nghiệp Hố Nai – Sông Mây.

Tại cơ quan Công an, đối tượng C khai nhận hành vi lấy trộm tiền như đã nêu trên. Do sự việc xảy ra tại địa bàn Quận 11 nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã bàn giao hồ sơ, vật chứng và đối tượng C cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 11 xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, bị can Nguyễn Duy C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm có:

- Một máy điện thoại di động hiệu Samsung đã qua sử dụng; số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 49.000 đồng; hai thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank và Ngân hàng Agribank mang tên Nguyễn Duy C, là tài sản cá nhân của bị can C.

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.065.000 đồng, là số tiền do bị can C chiếm đoạt của bà Mao Kim B còn lại.

Về dân sự: Trong thời gian bị can Nguyễn Duy C được tại ngoại, bị can đã trở lại làm việc tại Công ty XXX và hiện đã hoàn trả hết số tiền mà bị can đã chiếm đoạt của bà Mao Kim B. Bà Mao Kim B và bà Trần Thị Ngọc N (là người đại diện theo pháp luật của Công ty XXX) không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại cho bị can C (BL 51, 71).

Tại Bản cáo trạng số 65/CT-VKSQ11 ngày 19/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Nguyễn Duy C tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy C có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại là bà Mao Kim B vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xác nhận bị cáo Nguyễn Duy C đã trả lại hết số tiền 29.595.000 đồng. Bà B không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục khắc phục hậu quả và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Công ty Cổ phần Bao bì nhựa và hóa chất XXX do bà Trần Thị Ngọc N đại diện vắng mặt tại phiên tòa và không có đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi, nghĩa vụ gì khác. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

Người làm chứng là ông Hoàng Trung T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào khoảng 11 giờ ngày 25/4/2019, tại trước trụ sở chi nhánh của Ngân hàng TMCP Á Châu tại địa chỉ 331 Lê Đại Hành, Phường 13, Quận 11, bị cáo Nguyễn Duy C đã có hành vi chiếm đoạt một phong bì chứa tiền, bên ngoài có ghi tên Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr, bên trong có số tiền là 29.595.000 đồng, để ở hàng ghế sau của xe ô tô biển số 51A-93937, cạnh nơi bị cáo C đang ngồi. Số tiền trên thuộc quyền quản lý của bà Mao Kim B là thủ quỹ được giám đốc Công ty Cổ phần Bao bì nhựa và hóa chất XXX giao để thanh toán lương cho nhân viên của Công ty.

Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích tiêu xài cá nhân.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải bị xử lý nghiêm minh để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về cơ sở xem xét áp dụng án treo đối với bị cáo:

Bị cáo bị xét xử theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có nhân thân tốt, không có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng đủ răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Về xử lý vật chứng:

- Vật chứng là một máy điện thoại di động hiệu Samsung đã qua sử dụng; số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 49.000 đồng; hai thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank và Ngân hàng Agribank mang tên Nguyễn Duy C, là tài sản cá nhân của bị cáo C. Các vật chứng trên không phải là phương tiện phạm tội hoặc tài sản do phạm tội mà có. Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.

- Vật chứng là tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.065.000 đồng, là số tiền do bị cáo C chiếm đoạt của bà Mao Kim B còn lại. Bà B và Công ty Cổ phần Bao bì và hóa chất XXX xác nhận trong thời gian bị cáo được tại ngoại điều tra, bị cáo đã hoàn trả lại toàn bộ số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Do đó, tại thời điểm xét xử sơ thẩm, số tiền 1.065.000 đồng không còn là tài sản của bà Mao Kim B bị bị cáo chiếm đoạt. Số tiền trên là tài sản cá nhân của bị cáo. Căn cứ vào điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy C.

Về dân sự:

Trong thời gian bị cáo Nguyễn Duy C được tại ngoại, bị cáo đã trở lại làm việc tại Công ty XXX và hiện đã hoàn trả hết số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của bà Mao Kim B. Bà Mao Kim B và bà Trần Thị Ngọc N (là người đại diện theo pháp luật của Công ty XXX) không có yêu cầu bồi thường gì thêm; bà Trần Thị Ngọc N có đơn xin bãi nại cho bị cáo C. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường dân sự.

[5] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Duy C, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 50; Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 10/9/2019.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường 1, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trả lại cho bị cáo vật chứng là một máy điện thoại di động hiệu Samsung đã qua sử dụng; số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.114.000 đồng; hai thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank và Ngân hàng Agribank mang tên Nguyễn Duy C (theo Lệnh nhập kho số 46/LNK-ĐTTH ngày 29/4/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Bị cáo Nguyễn Duy C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


99
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về