Bản án 76/2018/HNGĐ-ST ngày 11/05/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 76/2018/HNGĐ-ST NGÀY 11/05/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 11 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Tuyết X - sinh năm 1971 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Rẫy M, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Phan Văn L - sinh năm 1968 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Rẫy M, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 16-4-2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Tuyết X trình bày:

Về hôn nhân: Năm 1993, bà X và ông Phan Văn L tự nguyện chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, ông L thường xuyên nhậu, đánh đập và xúc phạm bà X. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà X yêu cầu ly hôn với ông L

Về con chung: Bà X và ông L có 02 người con chung là Phan Mai T, sinh năm 1993 đã trưởng thành và Phan Chí Đ, sinh ngày 30-10-2002, bà X yêu cầu nuôi cháu Đỉnh theo ý nguyện vọng của cháu Đỉnh, không yêu cầu ông L cấp dưỡng.

Về chia tài sản và nợ chung: Bà X và ông L tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản hòa giải ngày 16-4-2017 và trong quá trình xét xử, bị đơn ông Phan Văn L trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như bà X trình bày. Ông L thừa nhận có nhậu, đánh và xúc phạm bà X. Do còn tình cảm với bà X nên ông L xin đoàn tụ.

Về nuôi con chung: Ông L thống nhất với trình bày của bà X, đồng ý giao cháu Phan Chí Đ, sinh ngày 30-10-2002 cho bà X nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ chung: Bà X và ông L tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hôn nhân: Năm 1993, bà Trần Tuyết X và ông Phan Văn L tự nguyện chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Hôn nhân giữa bà X và ông L đã vi phạm về mặt hình thức.

Mặt khác, bà X trình bày, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, ông L thường xuyên nhậu, đánh đập và xúc phạm bà X, ông L thừa nhận là có. Ông L còn thương vợ con nên xin đoàn tụ nhưng ông L không đưa ra biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong khi đó, bà X xác định đã hết tình cảm và cương quyết ly hôn với ông L. Xét mục đích hôn nhân giữa bà X và ông L không đạt được và không có giá trị pháp lý nên không được pháp luật công nhận ông bà là vợ chồng.

[2] Về nuôi con chung: Bà X và ông L có 02 người con chung là Phan Mai T, sinh năm 1993 đã trưởng thành và Phan Chí Đ, sinh ngày 30-10-2002. Bà X yêu cầu nuôi cháu Đỉnh theo nguyện vọng của con. Tòa án đã làm việc, cháu Đ có nguyện vọng sống với bà X nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X được tiếp tục nuôi cháu Đ.

Ông L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Mặc dù bà X đã được Tòa án giải thích cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình nhưng bà X xác định có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về chia tài sản và nợ chung: Bà X và ông L tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Tuyết X và ông Phan Văn L.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Phan Chí Đ, sinh ngày 30-10- 2002 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu Đ. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản và nợ chung: Bà X và ông L tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 23-3-2018, nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007954 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Án xử sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2018/HNGĐ-ST ngày 11/05/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:76/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về