Bản án 74/2019/HNGĐ ngày 28/06/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 74/2019/HNGĐ NGÀY 28/06/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 339/2019/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2019 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2019/QĐXX-ST ngày 06/6/2019 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Dương Thị N, sinh năm: 1991 (có mặt).

Địa chỉ: 554, ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Nguyễn Thành T, sinh năm: 1982 (có mặt).

Địa chỉ: 554, ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án bà Dương Thị N trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh T quen biết tìm hiểu nhau, tổ chức đám cưới năm 2007 có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Đến đầu năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống về tiền bạc, ông T không đi làm, bà phải làm nuôi chồng con, ông T ghen tuông vô cớ, xúc phạm bà, thường xuyên cự cãi nhau, vợ chồng ly thân từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay, hiện nay bà đi thuê nhà trọ ở riêng. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

- Về con chung: Có 02 con Nguyễn Tấn P, sinh ngày 11/02/2009, Nguyễn Tấn V sinh ngày 22/10/2015. Khi ly hôn yêu cầu nuôi hai con, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con.

Về tài sản chung: Có căn nhà cấp 4 cất trên phần đất diện tích 106,3m2 tại ấp B, xã T, thành phố M , tỉnh Tiền Giang tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Thành T trình bày:

Ông T thống nhất lời trình bày của bà N về thời gian kết hôn và chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông bệnh không đi làm được thì vợ kiếm chuyện và không ông đến gần, ông nghi ngờ bà N có tình cảm với người khác nên từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, vợ bỏ nhà đi thuê nhà trọ ờ từ tháng 3/2019. Nay bà N xin ly hôn ông không đồng ý.

- Về con chung: Có 02 con Nguyễn Tấn P, sinh ngày 11/02/2009, Nguyễn Tấn V sinh ngày 22/10/2015. Khi ly hôn ông yêu cầu nuôi cháu P, đồng ý giao cho bà N nuôi cháu V, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Có tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán tuân thủ đúng quy định của pháp luật như tiến hành xác minh, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xác minh, tống đạt các văn bản tố tụng đúng pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định pháp luật, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa tuân thủ đúng qui định pháp luật.

Về nội dung: Tóm tắt và nhận định nội dung vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị N, Bà N được ly hôn với ông Nguyễn Thành T; Con chung: Có 02 con Nguyễn Tấn P, sinh ngày 11/02/2009, Nguyễn T sinh ngày 22/02/2015. Ghi nhận sự thỏa thuận của bà N, ông T về việc nuôi con, ông bà không cấp dưỡng nuôi con cho nhau; Tài sản chung có tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp giữa bà Dương Thị N và ông Nguyễn Thành T là tranh chấp “ Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

[2] Tại phiên tòa bà Dương Thị N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành T; Con chung: Có 02 con Nguyễn Tấn P, sinh ngày 11/02/2009, Nguyễn Tấn V sinh ngày 22/10/2015. Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi cháu V, đồng ý giao ông T nuôi cháu P, không cấp dưỡng nuôi con cho nhau; Tài sản chung: Có căn nhà cất trên diện tích đất 106,3m2 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Tại phiên tòa ông Nguyễn Thành T không đồng ý ly hôn; Nếu Tòa án cho ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi cháu P, đồng ý giao cho bà N nuôi cháu V, không cấp dưỡng nuôi con cho nhau; Tài sản chung có tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét các yêu cầu của các đương sự:

[1] Về hôn nhân: Ông Nguyễn Thành T, bà Dương Thị N chung sống với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Đến đầu năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống về tiền bạc, ông T bị bệnh không làm, bà N bán vé số nuôi các con và ông T, ông T nghi ngờ bà N có quen người bạn trai khác nên ông ghen tuông xúc phạm bà N. Xét thấy bà N, ông T tự tìm hiểu chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T bị bệnh không đi làm phụ nuôi con với bà N, bà N đi bán vé số ông T nghi ngờ bà N có bạn trai khác ông ghen tuông dùng nhiều lời xúc phạm bà N kiếm chuyện gây gỗ thường xuyên, bà N đi thuê nhà trọ ở, thì ông T và gia đình ông T đã thay đổi ổ khóa cửa không cho bà N về thăm con và chăm sóc hai con, hơn nữa trong thời gian bà N đi thuê trọ ở riêng thì ông T không tới lui trao đổi tình cảm và đưa ra biện pháp để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ mà ông bà làm cho tình cảm vợ chồng rạn nức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt bà N yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị N.

[2] Về con chung: Có 02 con Nguyễn Tấn P, sinh ngày 11/02/2009, Nguyễn Tấn V sinh ngày 22/10/2015. Khi ly hôn ông T, bà N thỏa thuận bà N tiếp tục nuôi cháu V, ông T tiếp tục cháu P, ông bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu P hiện nay đang sống với ông T và nguyện vọng của cháu P muốn sống với ông T, cháu V bà Ngà đang nuôi từ nhỏ đến nay, ông bà chăm sóc các con chu đáo, để cho cháu V, cháu P có cuộc sống ổn định và không ảnh hưởng tư tưởng, tâm lý của cháu P, cháu V. Do đó sự thỏa thuận của ông bà phù phợp với quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận ông T tiếp tục nuôi cháu P, bà Ngà tiếp tục nuôi cháu V.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Thành T, bà Dương Thị N mỗi người nuôi một con nhưng cả hai không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Ông T, bà N khai thống nhất có căn nhà cất trên phần đất diện tích 106,3m2 tại ấp B, xã T, thành phố M-Tiền Giang, nhưng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5]Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa an giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí HNGĐ: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị N nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng vào các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

 Xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị N.

- Về hôn nhân: Bà Dương Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

- Về con chung: - Giao cho bà Dương Thị N tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Tấn V sinh ngày 22/10/2015.

Giao cho ông Nguyễn Thành T tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Tấn P sinh ngày 11/02/2009.

Ông Nguyễn Thành T, bà Dương Thị N không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Ông T, bà N có quyền đến trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung: Có căn nhà cất trên phần đất 106,3 m2 tại B, xã T, thành phố M hiện nay anh T đang quản lý sử dụng nhưng tự thỏa thuận.

- Về nợ chung: Không có.

2/ Về án phí HNGĐ: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bà Dương Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0014276 ngày 22/5/2019 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

3/ Bà Dương Thị N, ông Nguyễn Thành T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2019/HNGĐ ngày 28/06/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:74/2019/HNGĐ
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về