Bản án 71/2019/HSST ngày 18/06/2019 về tội chống người thi hành công vụ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 71/2019/HSST NGÀY 18/06/2019 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 66/2019/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1/ Mai Văn T; sinh năm 1991, tại: Thành phố H; thường trú: 34 đường Lưu Chí H, phường T, quận T, Thành phố H; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1968; vợ: Trần Lê Mỹ D, sinh năm 1993, và con: chưa có; tiền sự: không; tin án: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” – Có mặt.

2/ Trần Lê Quốc B; sinh năm: 1995, tại: Thành phố H; thường trú: 34 đường Lưu Chí H, phường T, quận T, Thành phố H; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1968; vợ: Châu Thúy L, sinh năm 1995 và con: 01 người sinh năm 2013; tiền sự: Không; tiền án: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” – Có mặt - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Lê Hoàng V, sinh năm 1976; trú tại: 25/3 đường Lê S, phường Tân Q, quận T, Thành phố H – Vắng mặt

2/ Anh Bùi Hồ Chí T, sinh năm: 1987; trú tại: 33 đường Lê N, phường Phú T, quận T, Thành phố H – Vắng mặt

3/ Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1968; trú tại: 34 đường Lưu Chí H, phường T, quận T, Thành phố H – Vắng mặt

4/ Ông Trần Văn T, sinh năm 1968; trú tại: 34 đường Lưu Chí H, phường T, quận T, Thành phố H – Vắng mặt

5/ Ông Trần Minh T, sinh năm: 1973; trú tại: 56/11 đường Lưu Chí H, phường T, quận T, Thành phố H – Vắng mặt

6/ Anh Trần Quốc H, sinh năm: 1987; trú tại: 56/13 đường D9, phường T, quận T, Thành phố H – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Văn T, Trần Lê Quốc B và Lê Thị Đ, Trần Văn T, Trần Minh T, Trần Quốc H có quan hệ gia đình và cùng thường trú tại nhà số 34 Lưu Chí H, phường T, quận T.

Khong 19 giờ ngày 08/3/2018, gia đình T, B tổ chức sinh nhật cho bà Lê Thị Đ tại công viên trước nhà số 34 Lưu Chí H, phường T, quận T. Đ, Tuấn, B, T, Hùng, T cùng một số bạn bè ăn nhậu và hát karaoke bằng thùng loa di động. Từ khoảng 00 giờ 00 đến 00 giờ 10 ngày 09/3/2018, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tổ tuần tra Công an và B vệ dân phố phường T đã 02 lần nhắc nhở nhóm của T và B về việc ăn nhậu, hát karaoke bằng thùng loa di động gây ồn ào, ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung. Nhóm của T, B cam kết sẽ nghỉ nhưng khi tổ tuần tra đi vẫn tiếp tục ăn nhậu, hát karaoke gây mất trật tự.

Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 09/3/2018, trực ban Công an phường T tiếp tục nhận được tin báo nhóm Đ vẫn còn ăn nhậu và hát karaoke gây mất trật tự nên trực ban yêu cầu lực lượng hỗ trợ tuần tra để giải quyết. Lúc này, tổ tuần tra Công an phường T được tăng cường gồm các anh Bùi Hồ Chí T, Lê Hoàng V, Trịnh Văn H, Lăng Quốc H kết hợp cùng 05 người bảo vệ dân phố gồm Nguyễn Nhựt B, Nguyễn Văn H, Nguyễn Viết L, Huỳnh Hoàng T, Đinh Quốc A đi trên xe ô tô hiệu Ford (do Công an quận T trang bị) đến trước số 34 Lưu Chí H, phường T, quận T. Khi đến nơi, tổ tuần tra xuống xe, đi đến trước bàn của nhóm T, B nhắc nhở và yêu cầu ngưng ngay việc ăn nhậu, ca hát gây ồn ào, mất trật tự nhưng nhóm T, B có thái độ không chấp hành và chửi bới tổ công tác. Hùng đứng dậy cầm đĩa bánh kem trên bàn ném xuống đất trước mặt tổ công tác làm bánh keo văng trúng chân anh H. Thấy vậy anh H yêu cầu mời H về phường làm việc thì nhóm của T, B càng chửi lớn tiếng đồng thời B xông đến đứng trước mặt anh H, dùng hai tay đẩy vào ngực anh H làm anh H lùi về phía sau. Thấy B có hành vi chống đối nên anh H yêu cầu B về Công an phường T làm việc thì ngay lập tức những người trong nhóm của T, B kéo B lại và ngăn cản tổ công tác. Thấy tình hình phức tạp, anh T liền lấy súng bắn đạn cao su (công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng Công an phường T khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra giữ gìn an ninh trật tự) bắn chỉ thiên để ổn định tình hình nhưng bắn 02 phát đạn không nổ. Anh T sợ súng cướp cò nên cất vào người và cùng tổ công tác ngăn cản nhóm của T, B bằng tay không. Anh H và anh H ôm giữ B lại, dùng còng số 8 còng hai tay của B ra phía sau lưng rồi anh H cùng anh T đưa B ra xe để đưa về trụ sở công an phường thì Nguyễn Thị Đ nắm tay B kéo lại. Hai bên giằng co làm anh H, anh T và B té xuống đường. B thoát khỏi sự không chế của lực lượng Công an bỏ chạy vào trong nhà 34 Lưu Chí H trốn trong tình trạng hai tay đang bị còng. Anh T đứng dậy và lấy súng bắn đạn cao su ra tiếp tục bắn chỉ thiên phát thứ 03 thì đạn nổ. Thấy vậy T xông đến, đứng trước mặt anh T và thách thức “Có ngon bắn vào đầu tao nè” và xô anh T té ngã xuống đường. Anh T bắn một phát trúng vào hông bên trái của T. T liền cầm một cái ghế bằng sắt ốp gỗ định đánh anh T thì anh V và gia đình T kịp thời can ngăn. T dừng lại không đánh anh T nữa và bỏ ghế xuống. Anh V, anh T khống chế T, đưa T ra xe nhưng do T giằng co làm cả ba té vào bụi cây. Anh T tiếp tục khống chế T và đưa T vào trong xe. Lợi dụng sơ hở T đẩy cửa xe bỏ chạy vào trong nhà 34 Lưu Chí H, phường T trốn. Tổ tuần tra mời T, B cùng những người liên quan về Công an phường làm việc thì gia đình T, B cam kết sáng ngày 09/3/2018 tất cả những người có liên quan sẽ đến Công an phường T làm việc. Anh H đưa chìa khóa còng số 8 cho một người tên Nguyễn Hùng S vào nhà mở còng số 8 cho B và mang còng số 8 đưa lại cho Công an phường T. Sau đó lực lượng Công an phường T rút về. Đến sáng ngày 09/3/2018 thì gia đình T, B đến Công an phường T làm việc.

Về thương tích:

- Mai Văn T bị vết thương chảy máu, dạng hình tròn, đường kính khoảng 1 cm ở hông bên trái (do súng bắn đạn cao su gây ra); B bị vết thương trầy sước nhẹ ở phần cổ tay phải. T và B cho rằng thương tích của T, B xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra nên T, B không yêu cầu xử lý, không yêu cầu bồi thường và từ chối giám định thương tật.

- Anh Lê Hoàng V bị trầy xước ở trên mí mắt bên phải, kích thước khoảng 0,3 cm. Anh Bùi Hồ Chí T trầy xước nhẹ ở mu bàn tay phải và cẳng chân phải.

Anh V, T đã làm đơn không yều cầu xử lý hình sự về hành vi cố ý gây thương tích và từ chối giám định thương tích, đồng thời không yêu cầu bồi thường.

Tại Cơ quan điều tra, Mai Văn T, Trần Lê Quốc B đã khai nhận hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập. Ngoài ra, T và B cho biết nguyên nhân phạm tội là do B, T nhận thức được việc gia đình ăn nhậu, hát karaoke tại nơi công cộng (Công viên trước nhà 34 Lưu Chí H, phường T) sau 22 giờ là vi phạm, gây mất an ninh trật tự, có thể bị phạt tiền. Mục đích chống lại tổ tuần tra là nhằm để không bị Công an phường T xử phạt vi phạm đối với hành vi của T, B và gia đình nêu trên. Tuy nhiên, hành vi của B, T xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, ăn nhậu say xỉn, không kìm chế được bản thân.

Vt chứng:

- 01 áo sơ mi màu xanh, ngắn tay; 01 quần Jean lửng, màu xanh. Tạm giữ của Mai Văn T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 cái ghế xếp bằng sắt, mặt gỗ, sơn đen, ngang 30 cm, cao 70 cm. Tạm giữ của Mai Văn T, dùng để đánh anh Bùi Hồ Chí T.

- 01 áo sơ mi ngắn tay, màu đen; 01 quần Jean dài, màu xanh. Tạm giữ của Trần Lê Quốc B, mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 quần Jean lửng, màu xanh; 01 áo thun sọc ngang, màu trắng – đen, có sọc đỏ - xanh ngang ngực. Tạm giữ của Lê Thị Đ mặc vào lúc xảy ra sự việc, đã trả lại cho Đ.

- 01 áo thun sọc ngang, màu xám – xanh – trắng, có túi ở ngực trái; 01 quần kaki ngắn, màu nâu có chữ Sport ở túi quần bên trái. Tạm giữ của Trần Văn T mặc vào lúc xảy ra sự việc, đã trả lại cho Tuấn.

- 01 áo thun sọc ngang, màu xám – vàng; 01 quần lửng sọc caro. Tạm giữ của Trần Minh T mặc vào lúc xảy ra sự việc, đã trả lại cho T - 01 áo sơ mi ngắn tay, màu trắng, hiệu Allam; 01 quần Jean dài, màu xám. Tạm giữ của Trần Quốc H mặc vào lúc xảy ra sự việc, đã trả lại cho Hùng.

Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSQ.TP ngày 02 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận T đã truy tố các bị cáo Mai Văn T, Trần Lê Quốc B về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Lê Quốc B từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần xử lý vật chứng.

- Các bị cáo Mai Văn T, Trần Lê Quốc B đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/3/2018 gia đình T, B tổ chức sinh nhật cho Lê Thị Đ tại Công viên trước nhà số 34 đường Lưu Chí H, phường T, quận T. Gồm có Lê Thị Đ, Trần Văn T, Trần Lê Quốc B, Trần Minh T, Trần Quốc H và Mai Văn T cùng một số bạn bè ăn nhậu và hát karaoke bằng loa di động. Từ khoảng 00 giờ 00 phút đến 00 giờ 10 phút ngày 09/3/2018, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tổ tuần tra công an phường T đã 02 lần nhắc nhở nhóm của T và B về việc ăn nhậu, hát karaoke bằng thùng loa di động gây ồn ào, ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung, nhóm của T, B cam kết sẽ nghỉ nhưng tổ tuần tra đi thì nhóm vẫn tiếp tục ăn nhậu, hát karaoke gây mất trật tự.

Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 09/3/2018, trực ban Công an phường T tiếp tục nhận được tin báo nhóm của Đ vẫn còn ăn nhậu, hát karaoke gây mất trật tự nên trực ban yêu cầu lực lượng hỗ trợ tuần tra để giải quyết. Lúc này, tổ tuần tra Công an phường T được tăng cường gồm các anh Bùi Hồ Chí T, Lê Hoàng V, Trịnh Văn H, Lăng Quốc H kết hợp cùng 05 B vệ dân phố gồm Nguyễn Nhựt B, Nguyễn Văn H, Nguyễn Viết L, Huỳnh Hoàng T, Đinh Quốc A đi trên xe ô tô hiệu Ford (Do Công an quận T trang bị) đến trước nhà số 34 đường Lưu Chí H, phường T, quận T yêu cầu nhóm của B, T ngưng ngay việc ăn nhậu và ca hát gây ồn ào, mất trật tự nhưng nhóm T, B có thái độ không chấp hành và chửi bới tổ công tác. H đứng dậy cầm đĩa bánh kem trên bàn ném xuống đất trước mặt tổ công tác làm bánh kem văng trúng chân anh H, anh H mời H về phường làm việc thì nhóm T, B càng chửi lớn tiếng đồng thời B xông đến đứng trước mặt anh H, dùng hai tay đẩy vào ngực anh H làm anh H lùi về phía sau. Do B có hành vi chống đối nên anh H mời B về trụ sở công an phường làm việc thì ngay lập tức những người trong nhóm của T, B kéo B lại và ngăn cản tổ công tác. Thấy tình hình phức tạp, anh T liến lấy súng bắn đạn cao su bắn chỉ thiên để ổn định tình hình nhưng bắn 02 phát đạn không nổ. Khi anh H, anh H và anh T dùng còng số 8 còng tay B đưa ra xe về trụ sở công an thì Nguyễn Thị Đ nắm tay B kéo lại. Hai bên giằng co làm anh H, anh T và B té ngã xuống đường, B thoát khỏi sự khống chế của Công an bỏ chạy vào nhà số 34 đường Lưu Chí H, phường T, quận T, anh T lấy súng bắn chỉ thiên phát thứ 3 thì đạn nổ. Ngay lúc này T xông đến đứng trước mặt anh T và thách thức “Có ngon thì bắn vào đầu tao nè” và xô anh T té ngã xuống đường, anh T bắn một phát trúng vào hông bên trái của T, T liền cầm 01 cái ghế bằng sắt ốp gỗ định đánh anh T thì anh Văn và gia đình T kịp thời can ngăn nên T bỏ ghế xuống. Anh V, anh T khống chế T đưa T ra xe, lợi dụng sơ hở T đẩy cửa xe bỏ chạy vào trong nhà số 34 đường Lưu Chí H, phường T, quận T trốn. Tổ tuần tra tiếp tục mời T, B cùng những người liên quan về công an phường làm việc thì gia đình T, B cam kết sáng ngày 09/3/2018, mọi người sẽ đến trụ sở công an phường T làm việc nên lực lượng tuần tra rút về.

Vì vậy, đã có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Mai Văn T, Trần Lê Quốc B phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đã có hành vi xô đẩy, thách thức, cản trở việc thực hiện công vụ của tổ tuần tra công an phường T khi đang thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn nên Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố các bị cáo Mai Văn T, Trần Lê Quốc B theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân các bị cáo nhận thức được chống người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ việc thiếu ý thức tôn trọng pháp luật, ăn nhậu say xỉn không kiềm chế được bản thân nên các bị cáo đã cố ý phạm tội.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với từng bị cáo và đảm B công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi lượng hình. Riêng bị cáo Mai Văn T có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân vụ sự nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, trong thời gian tại ngoại các bị cáo không phạm tội khác nên xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo mà giao về chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ tác dụng đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 áo sơ mi màu xanh, ngắn tay; 01 quần Jean lửng, màu xanh; 01 cái ghế xếp bằng sắt, mặt gỗ, sơn đen, ngang 30 cm, cao 70 cm thu giữ của Mai Văn T; 01 áo sơ mi ngắn tay, màu đen; 01 quần Jean dài, màu xanh thu giữ của Trần Lê Quốc B, tại phiên tòa hôm nay hai bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 quần Jean lửng, màu xanh; 01 áo thun sọc ngang, màu trắng – đen, có sọc đỏ - xanh ngang ngực thu giữ của Lê Thị Đ, đã trả lại cho Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- 01 áo thun sọc ngang, màu xám – xanh – trắng, có túi ở ngực trái; 01 quần kaki ngắn, màu nâu có chữ Sport ở túi quần bên trái thu giữ của Trần Văn T, đã trả lại cho T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- 01 áo thun sọc ngang, màu xám – vàng; 01 quần lửng sọc caro thu giữ của Trần Minh T, đã trả lại cho T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- 01 áo sơ mi ngắn tay, màu trắng, hiệu Allam; 01 quần Jean dài, màu xám thu giữ của Trần Quốc H, đã trả lại cho H nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đi với Lê Thị Đ, Trần Minh T, Trần Văn T, Trần Quốc H có lời nói, hành động nhằm phản đối, không chấp hành lực lượng tuần tra công an phường T nhưng xét thấy hành vi còn hạn chế nên không cần thiết xử lý hình sự đối với các đối tượng trên. Công an quận T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở và phù hợp.

Đi với vết thương chảy máu, dạng hình tròn của Mai Văn T (do súng bắn đạn cao su gây ra) và thương tích trầy xước nhẹ ở phần cổ tay phải của B, do B và T không yêu cầu xử lý, không yêu cầu bồi thường và từ chối giám định thương tật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đi với anh Lê Văn H bị trầy xước ở trên mí mắt bên phải. Anh Bùi Hồ Chí T trầy xước nhẹ ở mu bàn tay phải và cẳng chân phải. Anh V và anh T không yêu cầu xử lý hình sự và từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố các bị cáo Mai Văn T, Trần Lê Quốc B phạm tội: "Chống người thi hành công vụ"

[2] Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 330; điểm i, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Mai Văn T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố H giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

- Khoản 1 Điều 330; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Lê Quốc B 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố H giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

[3] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tch thu tiêu hủy 01 (Một) áo sơ mi màu xanh, ngắn tay; 01 (Một) quần Jean lửng, màu xanh; 01 (Một) cái ghế xếp bằng sắt, mặt gỗ, sơn đen, ngang 30 cm, cao 70 cm thu giữ của Mai Văn T; 01 (Một) áo sơ mi ngắn tay, màu đen; 01 (Một) quần Jean dài, màu xanh thu giữ của Trần Lê Quốc B (Vật chứng đang nhập kho theo Phiếu nhập nhập kho vật chứng số 147/PNK ngày 03/5/2018 của Công an quận T)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[4] Buộc các bị cáo Mai Văn T, Trần Lê Quốc B, mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố H. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 


92
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 71/2019/HSST ngày 18/06/2019 về tội chống người thi hành công vụ

Số hiệu:71/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về