Bản án 711/2018/HNGĐ-ST ngày 05/06/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 711/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/06/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2488/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Dương Thanh T, sinh năm 1995

Địa chỉ: 21/2A đường số M, phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Fan Yu F, sinh năm 1977

Địa chỉ: số 135 Lộ Y, khóm 006, thôn H, làng D, huyện Đ, Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 12/02/2018 và bản tự khai ngày 26/4/2018, nguyên đơn bà Nguyễn Dương Thanh T trình bày:

Bà và ông Fan Yu F quen biết nhau vào khoảng tháng 02/2016, đến năm 2017 hai bên tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 118 ngày 14/8/2017 của UBND Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi kết hôn, ông Fan Yu F quay về Đài Loan; vợ chồng liên lạc với nhau qua điện thoại hoặc đến gặp trực tiếp tại Đài Loan và Việt Nam. Thời gian vợ chồng hạnh phúc bình thường chỉ đến đầu năm 2018, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm và tính tình không hòa hợp, dù vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhưng chỉ được thời gian ngắn mâu thuẫn cũ lại xảy ra. Sau đó, hai bên không còn liên lạc gì với nhau, mạnh ai nấy sống. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục đời sống chung nên yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại Bản tự khai ngày 20/4/2018 của bị đơn ông Fan Yu F được Văn phòng kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc chứng nhận ngày 02/5/2018 có nội dung như sau:

Ông và bà Nguyễn Dương Thanh T kết hôn với nhau vào ngày 14/8/2017 theo giấy chứng nhận kết hôn số 118 do Ủy ban nhân dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường; đến đầu năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn quá nhiều nên không còn tình cảm nữa. Nay đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Dương Thanh T, ông đồng ý.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Dương Thanh T, bị đơn ông Fan Yu F đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Dương Thanh T đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; bị đơn ông Fan Yu F cư trú tại lãnh thổ Đài Loan; giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 465; Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tòa án không thu thập chứng cứ nên căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Dương Thanh T, bị đơn ông Fan Yu F có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

 [2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Bà Nguyễn Dương Thanh T và ông Fan Yu F tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2017, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 118 ngày 14/8/2017 của Ủy ban nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Theo lời khai của cả bà T và ông Fan Yu F thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc bình thường được thời gian ngắn là phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm và tính tình không hòa hợp dẫn đến tình cảm rạn nứt, dù đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không kết quả. Từ đầu năm 2018 đến nay, vợ chồng mạnh ai nấy sống không còn liên lạc với nhau nữa. Cả hai ông bà đều xác định không thể tiếp tục cuộc hôn nhân và có yêu cầu ly hôn.

Xét, tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế vợ chồng đã không còn sống cùng nhau, không tạo được điều kiện hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn giữa vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng. Do đó, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Xét, yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa đôi bên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: không có

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng nguyên đơn chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 469; Điều 474; Điều 477; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Dương Thanh T;

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Dương Thanh T được ly hôn ông Fan Yu F.

Giấy chứng nhận kết hôn số 118 của Ủy ban nhân dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/8/2017 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Dương Thanh T nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, cấn trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà T đã nộp tại Biên lai thu số AA/2017/0048963 ngày 13/3/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, bà T đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Dương Thanh T và bị đơn ông Fan Yu F; bà Nguyễn Dương Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ, ông Fan Yu F được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

155
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 711/2018/HNGĐ-ST ngày 05/06/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:711/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về