Bản án 54/2017/HNST ngày 06/07/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 54/2017/HNST NGÀY 06/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 06 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số:161 /2017/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2017 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195 /2017/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu L, sinh năm 1985

Địa chỉ: 67/16A, đường Hùng Vương, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ. ( Có mặt )

Bị đơn: Ông Lê Doãn V, sinh năm 1985.

Địa chỉ: 71, đường Trần Phú, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Phạm Thị Thu L cho rằng: Bà và ông Lê Doãn V đã tiến đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2010 tại Ủy ban nhân dân phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng từ tháng 6/2016 ông bà xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, vợ chồng đã ly thân từ tháng 7/2016 cho đến nay. Sau nhiều lần suy nghĩ và tìm mọi biện pháp để hàn gắn nhưng không đạt được kết quả. Nay bà L xác định không thể hàn gắn với chồng là ông V nên có đơn yêu cầu ly hôn.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Doãn Khiêm ( Nam), sinh ngày 28/9/2010. Từ khi ly thân đến nay do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn bà yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lê Doãn V trong suốt quá trình từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ qua người thân thích của ông V ký nhận thông báo thụ lý, thông báo phiên họp và hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhiều lần, như ông vẫn vắng mặt, nên không thu thập được lời khai.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Phạm Thị Thu L cho rằng không còn tình cảm với ông Lê Doãn V, do ông V không chăm lo gì cho vợ, con, nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

- Đối với Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 và Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đã xác định đúng về thẩm quyền theo loại việc, theo cấp xét xử và lãnh thổ; về quan hệ pháp luật tranh chấp là đúng; xác định đúng tư cách đương sự; việc thu thập chứng cứ; gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định.

- Đối với Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự thủ tục điều khiển tại phiên tòa; xét xử vắng mặt các đương sự đúng quy định pháp luật tố tụng.

- Đối với các đương sự, Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật tố dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

- Đối với nội dung giải quyết vụ án đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu L khởi kiện xin ly hôn với ông Lê Doãn V nên tranh chấp giữa các đương sự là loại “Tranh chấp ly hôn” và bị đơn có nơi cư trú tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [2] Đối với bị đơn ông Lê Doãn V căn cứ địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp và qua các giấy yêu cầu xác minh số 1542/GYC.TA, ngày 01/11/2016 và số 161/GYC.TA, ngày 14/4/2017, thì đều xác định ông V hiện còn đang cư trú tại 71,

Trần Phú, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, nhưng mặc dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5, 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông V theo quy định.

[3] Xét về yêu cầu xin ly hôn: Bà Phạm Thị Thu L và ông Lê Doãn V bắt đầu chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2010, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2010, nên được pháp luật công nhận ông, bà là vợ chồng. Quá trình chung sống theo bà L cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, phát sinh nhiều mâu thuẫn trong tình cảm, nên thường xuyên cãi vã và dẫn đến xin ly hôn.

Xét thấy với những mâu thuẫn của bà L, ông V dẫn đến yêu cầu xin ly hôn như bà trình bày, thời gian cũng từ tháng 6/2016 cho đến nay, nhưng ông, bà cũng không có biện pháp gì để hàn gắn lại. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến phiên tòa hôm nay, nhưng ông V vẫn vắng mặt không lý do, chứng tỏ ông không còn quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân này. Mặc khác trước đây vào tháng 11/2016 ông, bà cũng đã có đơn yêu cầu thuận tình ly hôn, nhưng sau đó rút đơn và Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết việc hôn nhân, nhưng sau khi rút đơn cho đến nay ông, bà cũng không hàn gắn tình cảm lại được. Nên xét thấy mâu thuẫn của ông, bà đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này, thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do đó có căn cứ chấp nhận cho bà L và ông V được ly hôn với nhau.

 [4]Xét về yêu cầu nuôi con chung :

Xét việc giao con chưa thanh niên cho vợ hoặc chồng nuôi dưỡng khi ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Xét thấy từ khi ông V và bà L ly thân cho đến nay, bà L đang trực tiếp nuôi con chung. Qua trình bày bà L hiện cũng có nghề nghiệp ổn định để nuôi cháu. Đối với ông V trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông không có mặt, cũng không thể hiện ý kiến của mình về việc có yêu cầu xin nuôi con chung hay không. Do đó với những căn cứ nêu trên, xét thấy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu Lê Doãn Khiêm về điều kiện sinh sống, học tập sau này và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu về thể chất và tinh thần, tránh bị xáo trộn về tâm sinh lý, nghĩ nên tiếp tục giao cháu Khiêm cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp, đồng thời ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

[5]Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

 [6]Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng :

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 1 Điều 4; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình

-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu L

- Về qu an h ệ hôn nhân : Chấp nhận cho bà Phạm Thị Thu L được ly hôn với ông Lê Doãn V.

- Về con chu ng: Có 01 con chung là cháu Lê Doãn Khiêm (Nam), sinh 28/9/2010. Khi ly hôn giao cho bà Phạm Thị Thu L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Doãn V không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho ông Lê Doãn V, không ai được quyền ngăn cản và có quyền xin thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con.

- Về tài sản chung, nợ chung : Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình : Bà Phạm Thị Thu L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 003321, ngày 13/01/2017 và số 003395, ngày 13/02/2017 thành án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng có trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


181
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2017/HNST ngày 06/07/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:54/2017/HNST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ninh Kiều - Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về