Bản án 70/2018/HS-ST ngày 30/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 70 /2018/HS-ST NGÀY 30/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 10 năm 2018,tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Sỹ H, sinh ngày 29/ 9/ 1984, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm M, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Nơi ĐKHKTT: xóm M, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.

Con ông: Lê Sỹ D (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T (Đã chết)

Anh chị em ruột: có 5 người, bị cáo là con thứ năm.

Vợ: Hoàng Thị Ph, sinh năm 1984; Có 2 con, sinh năm 2012, và năm 2014

Tiền án, tiền sự: không.

*Nhân thân:

-Ngày 23/4/2003, bị TAND huyện Quỳnh Lưu xử phạt 12 tháng tù về tội:Trộm cắp TS.

-Ngày 07/8/2006 bị TAND huyện Cư M’gar, Đắk Lắk xử phạt 9 tháng tù về tội: TCTS. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2018 đến ngày 21/7/2018,Hiện đang tại ngoại, có mặt

*Bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991

Địa chỉ: Khối Nm, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Vũ Trung T, sinh năm 1990

Địa chỉ: Khối A, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1990

Địa chỉ: Khối Y, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Anh D, anh T, anh S đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 12/7/2018 tại quán Internet Bá Tước của gia đình anh Lê Khắc Tùng,( thuộc xóm M, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An). Trong khi anh Nguyễn Văn D đang chơi internet và để trên ghế chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng để sạc pin, thì Lê Sỹ H cũng vào chơi. H thấy chiếc điện thoại đang sạc pin để trên ghế không có ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, H liền rút chiếc điện thoại ra khỏi dây xạc đem về nhà cất dấu.

Đến ngày 14/7/2018 H đưa chiếc điện thoại đó cho anh Vũ Trung T đi cầm cố giúp H. T đem điện thoại đến cầm cố cho anh Nguyễn Quang S chủ tiệm sửa chữa điện thoại Quang S (thuộc khối Y, phường Q, thị xã H) được số tiền 2.000.000đ , T về đưa cho H số tiền 1.500.000đ, còn lại 500.000đ T chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 15/7/2018 Lê Sỹ H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai xin đầu thú về hành vi trộm cắp T sản của mình.

Ngày 16/7/2018 chị Nguyễn Thị Th (vợ anh Nguyễn Quang S) đã giao nộp chiếc điện thoại cầm cố của T cho Cơ quan Công an để điều tra. Sau đó được Hội đồng định giá: Giá trị chiếc điện thoại Iphone 6, màu vàng tại thời điểm chiếm đoạt là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), và trả lại điện thoại cho anh Nguyễn Văn D.

*Tài sản tạm giữ:

Công an thị xã Hoàng Mai đang tạm giữ 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu mận chín, biển kiểm soát 37K5 -0433, có nguồn gốc của chị Hoàng Thị H, sinh năm 1975,( trú tại khối 17, phường H, thành phố V, Nghệ An).

*Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Nguyễn Quang S là người đã cầm cố chiếc điện thoại từ anh Vũ Trung T yêu cầu anh T trả lại số tiền 2.000.000đ.

- Anh Vũ Trung T yêu cầu Lê Sỹ H trả lại số tiền 1.500.000đ.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, số 67/CT-VKS-HM, ngày 01/10/2018, Truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai,Nghệ An để xét xử: Lê Sỹ H về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 điều 173 BLHS 2015.

*Tại phiên tòa:

-Kiểm sát viên giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị: Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS 2015. Xử phạt Lê Sỹ H từ 06 đến 09 tháng tù.

Anh D đã nhận lại đầy đủ T sản bị mất,không yêu cầu gì thêm. Nên miễn xét.

Xử lý tài sản: Tiếp tục giao cho xe máy, biển kiểm soát 37K5 -0433 cho Công an thị xã Hoàng Mai xác minh xử lý. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Vũ Trung T trả cho anh Nguyễn Quang S 2.000.000đ; Buộc bị cáo trả cho anh Vũ Trung T 1.500.000đ.

- Bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và thiệt hại xảy ra. Đề nghị được chiếu cố giảm nhẹ mức án do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vụ án hình sự trộm cắp tài sản xẩy ra sau thời điểm 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018(Thời điểm có hiệu lực thi hành Bộ luật hình sự 2015). Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiến hành tố tụng vụ án theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng Hình sự 2015. Trình tự thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. T liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về việc áp dụng bộ luật hình sự: Kết luận đề nghị của cơ quan điều tra; Kết luận truy tố của Viện kiểm sát,và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án dựa theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 là đúng pháp luật.

[3] HĐXX đã làm rõ được diễn biến vụ án như nội dung tóm tắt vụ án đã nêu trên. Qua đó cho thấy:

Lời khai của bị cáo Lê Sỹ H tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, đặc điểm của tài sản là đối tượng của tội phạm; phù hợp với nội dung T liệu vụ án của cơ quan điều tra Công an thị xã Hoàng Mai. Nên có cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Sỹ H lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại của anh Nguyễn Văn D trị giá: 4.000.000 đồng.

[4] Hành vi phạm tội của Lê Sỹ H là liều lĩnh, coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu T sản của người khác đang được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an và gây tâm lý hoang mang lo lắng cho nhân dân địa phương. Nên cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo,để răn đe giáo dục người phạm tội phạm nói riêng cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét về tính chất, nguyên nhân điều kiện phạm tội: Do tính tham lam muốn hưởng thụ T sản mà không đổ công sức, nên khi có cơ hội Lê Sỹ H thực hiện ngay hành vi phạm tội. Thiệt hại của anh Nguyễn Văn D trong vụ án là do Lê Sỹ H gây ra. Nên bị cáo phải chịu mức độ xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Sỹ H không có tình tiết tăng nặng hình sự.

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Phạm tội gây thiệt hại không lớn; Thành khẩn khai báo,ăn năn hối cải; Tự nguyện đầu thú. Ngoài ra còn chiếu cố cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của nhà nước ta đối với người phạm tội là: Hành vi phạm tội bột phát, tính chất đơn giản, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; T sản của anh D được thu hồi ngay, cũng làm giảm đáng kể tính nguy hiểm do hành vi bị cáo gây ra. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã 2 lần bị Tòa án xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản, nay lại phạm tội Trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo là người khó có thể tự rèn luyện cải tạo để sửa chữa lỗi lầm.

Do đó,xử phạt mức án như mức án Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo nhờ Vũ Trung T cầm cố điện thoại trộm cắp để lấy tiền. Việc sử dụng tiền có được từ cầm cố điện thoại nói trên là hưởng lợi không có căn cứ pháp luật, nên người trực tiếp hưởng lợi phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã cầm cố cho anh Nguyễn Quang S, theo số tiền đã hưởng trên thực tế. Do đó bị cáo phải hoàn trả 1.500.000đ; anh T phải hoàn trả 500.000đ.

[6] Xử lý vật chứng và T sản bị tạm giữ:

- Công an thị xã Hoàng Mai đã trả vật chứng là tài sản cho người bị hại( anh D). Việc giao trả trên là đúng trình tự pháp luật. Tại hồ sơ, anh D không yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.

- Công an thị xã Hoàng Mai đang tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu mận chín, biển kiểm soát 37K5 - 0433, tuy xác định được nguồn gốc nhưng chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Nên tiếp tục giao cho Công an thị xã Hoàng Mai để xác minh xử lý theo thẩm quyền.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự; Vũ Trung T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1,khoản 2 Điều 51BLHS 2015. Xử phạt Lê Sỹ H 06 ( Sáu) tháng tù,về tội: Trộm cắp T sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án,nhưng được từ thời gian đã tạm giữ từ ngày 15/7/2018 đến ngày 21/7/2018.

*Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Áp dụng điều 123; khoản 2 điều 131 BLDS. Buộc Lê Sỹ H và anh Vũ Trung T phải liên đới hoàn trả tiền cho anh Nguyễn Quang S là 2.000.000đồng.( Kỷ phần: H 1.500.000đ; anh T 500.000đ).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, khoản tiền mà Bị cáo và anh T chưa thi hành còn phải chịu lãi suất theo quy định tại điều 357 Bộ Luật Dân sự 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

*Về án phí: Bị cáo Lê Sỹ H phải chịu 200.000đồng án phí HSST và 300.000đ án phí dân sự. Anh Vũ Trung T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự.

* Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.


125
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 70/2018/HS-ST ngày 30/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:70/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hoàng Mai - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về