Bản án 70/2018/HNGĐ-ST ngày 31/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 70/2018/HNGĐ-ST NGÀY 31/07/2018VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị N, sinh năm 1984 (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Cao Văn B, sinh năm 1974 (Cao Văn B, sinh năm 1972) (Vắng mặt).

Cùng cư trú: Ấp B, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trương Thị N trình bày: Vào năm 2000 chị và anh Cao Văn B kết hôn, đến năm 2005 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống anh B không chăm lo cho cuộc sống của gia đình nên xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên chị và anh B đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

Về con chung có 02 người tên là Cao Minh Th, sinh ngày 19/6/2001 và Cao Vủ D, sinh ngày 30/8/2009. Hiện tại con chung đang sống chung với chị nên chị yêu cầu nuôi hai người con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Anh Cao Văn B được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của chị N. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đối với anh Nguyễn Thang L là em rễ của anh B thì anh L cho rằng các lần nhận văn bản tố tụng của Tòa án đã giao cho anh B nhưng anh B không có ý kiến gì.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Trương Thị N ly hôn với anh Cao Văn B. Về con chung giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung và anh B không cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị N khởi kiện anh B về ly hôn, tranh chấp nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đồng thời, anh B được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh B được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân, chị N và anh B kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị N cho rằng cuộc sống hôn nhân xảy ra mâu thuẫn do anh B không chăm lo cho cuộc sống của vợ chồng, không thể hàn gắn được nên chị và anh B sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay nhưng anh B không có ý kiến. Xét hôn nhân của chị N và anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ đó, chấp nhận cho chị N ly hôn với anh B là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân là có căn cứ để chấp nhận.

[3] Về con chung, chị N yêu cầu nuôi hai người con chung và nguyện vọng của hai người con chung đều có nguyện vọng sống với chị N nhưng anh B không có ý kiến. Từ đó, giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng Cao Minh Th và Cao Vủ D là có căn cứ theo quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Chị N xác định về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị N chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân, chấp nhận cho chị Trương Thị N ly hôn với anh Cao Văn B.

2. Về con chung: Giao chị Trương Thị N trực tiếp nuôi dưỡng Cao Minh Th, sinh ngày 19/6/2001 và Cao Vủ D, sinh ngày 30/8/2009. Chị N không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên anh B không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Chị Trương Thị N chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số0006926, ngày 05 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Chị N nộp đủ án phí sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 70/2018/HNGĐ-ST ngày 31/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:70/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về