Bản án 69/2020/HS-ST ngày 28/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 69/2020/HS-ST NGÀY 28/09/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn N; tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 10/8/1989, tại: Huyện M, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản K, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 6; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn L, sinh năm 1965 và con bà Lò Thị L, sinh năm 1967; bị cáo có vợ là Lường Thị L, sinh năm 1989 và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa bị xét xử và xử lý hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/7/2020, tạm giam ngày 12/7/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có nghĩa vụ liên quan: Quàng Thị S; sinh năm 1969; trú tại bản L, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 07 giờ ngày 09/7/2020, bị cáo Lường Văn N đi từ nhà ở bản K, xã X, huyện M đến nhà Quàng Thị S, trú tại bản L, xã C, huyện T để chơi. Đến 11 giờ cùng ngày, bị cáo đi từ nhà Quàng Thị S đến khu vực ngã ba X, xã B, huyện M để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, bị cáo gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua trao đổi, thỏa thuận, bị cáo mua của người đàn ông đó 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 17 viên ma túy tổng hợp Methamphetamine và 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa Heroine với giá 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Việc trao đổi mua bán ma túy chỉ có bị cáo và người đàn ông đó biết với nhau ngoài ra không có ai biết và tham gia cùng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo lại đến nhà Quàng Thị S là người quen biết từ trước mà bị cáo thường đến ở nhờ. Khi đến nhà Sương không thấy ai ở nhà nên bị cáo tự ý đi vào giường ngủ dưới gầm sàn rồi dùng dao lam chia số Heroine thành 06 gói nhỏ gói bằng túi nilon màu xanh, sau đó để 01 gói Heroine và gói ma túy tổng hợp Methamphetamine ở trên bàn trong phòng ngủ của nhà Quàng Thị S, còn 05 gói Heroine bị cáo cất giấu vào trong ống tre đặt dưới gầm giường và lấy 01 viên ma túy tổng hợp Methamphetamine ra sử dụng bằng hình thức hít. Số ma túy còn lại bị cáo chưa kịp sử dụng hết thì đến 18 giờ 30 phút cùng ngày bị tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,08 gam và 16 viên ma túy tổng hợp Methamphetamine có khối lượng 1,65 gam. Cùng ngày tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở nhờ đối với bị cáo; quá trình khám xét đã thu giữ một ống tre có chứa 05 gói Heroine được gói bằng các túi nilon màu xanh dưới gầm giường bị cáo ngủ nhờ có khối lượng 1,4 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Lường Văn N là 3,13 gam.

Tại bản Kết luận giám định số: 699/GĐ-PC09 ngày 20/7/2020 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: “02 mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Văn N gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine; khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn N là 1,48 gam chất bột màu trắng. Mẫu viên nén mầu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Văn N gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine; khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn N là 1,65 gam”. 

Tại bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSTG ngày 08 tháng 9 năm 2020, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lường Văn N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Thực hành quyền công tố tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; không phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín bên trong đựng: 08 mảnh nilon màu xanh, mẫu số 1 chứa 0,06 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, mẫu số 2 chứa 1,55 gam Methamphetamine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, mẫu số 3 chứa 1,34 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, 02 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng. Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 11 giờ ngày 09/7/2020 bị cáo Lường Văn N mua 01 gói Heroine và 17 viên Methamphetamine (ma túy tổng hợp) với số tiền là 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không quen biết tại ngã ba X xã B, huyện M mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo mang số ma túy trên đến nhà người quen là Quàng Thị S chia gói Heroine thành 06 gói nhỏ hơn gói bằng túi nilon màu xanh và để 01 gói Heroine cùng ma túy tổng hợp trên bàn trong phòng ngủ nơi bị cáo ngủ nhờ, còn 05 gói Heroine bị cáo cất giấu vào trong uống tre đặt dưới gầm giường; sau đó bị cáo lấy 01 viên ma túy tổng hợp ra sử dụng bằng hình thức hít. Số ma túy còn lại bị cáo chưa kịp sử dụng đến 18 giờ 30 phút ngày 09/7/2020 bị tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo bắt người phạm tội quả tang thu giữ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Lường Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng Heroine là 1,48 gam và khối lượng Methamphetamine là 1,65 gam. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lường Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2] Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo và có bố đẻ được Nhà nước thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo từ nhỏ sống phụ thuộc vào gia đình tại xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; được đi học hết lớp 6 sáu đó nghỉ học ở nhà lao động sản xuất. Bị cáo nghiện chất ma túy năm 2015. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.

[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249. Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là sản xuất nông nghiệp, sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Kiểm sát viên đề nghị xử phạt đối với bị cáo: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần chấp nhận.

[6] Các vấn đề khácĐi với người đàn ông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 09/7/2020. Quá trình điều tra xét thấy khi mua bán ma túy, bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông đó. Cơ quan điều tra - Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ để điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín bên trong đựng: 08 mảnh nilon màu xanh, mẫu số 1 chứa 0,06 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, mẫu số 2 chứa 1,55 gam Methamphetamine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, mẫu số 3 chứa 1,34 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, 02 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về hành vi và các Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.

[9] Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí; theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố:

1. Về tội danh: Bị cáo Lường Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2020.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín bên trong đựng: 08 mảnh nilon màu xanh, mẫu số 1 chứa 0,06 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, mẫu số 2 chứa 1,55 gam Methamphetamine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, mẫu số 3 chứa 1,34 gam Heroine đựng trong một túi nilon trắng gắn kín lại, 02 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2020). 


38
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2020/HS-ST ngày 28/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:69/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về