Bản án 69/2017/HNGĐ-ST ngày 25/12/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 69/2017/HNGĐ-ST NGÀY 25/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 25 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 320/2017/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 11 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên toà số 133/2017/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Diễm T, sinh năm 1998, địa chỉ Số , Ấp X, xã T, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Vũ P, sinh năm 1987, địa chỉ Ấp X, xã B, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Vào năm 2014, chị Võ Thị Diễm T và anh Nguyễn Vũ P tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có làm đám cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình sống có 01 con chung tên là Võ Thị Bé L, sinh ngày
27/9/2015, đang sống với chị T.

Do anh P thường xuyên ăn nhậu, đánh chị T và đánh cả cha vợ, chị T không thể chung sống với người chồng như vậy, nên đã bồng con về nhà cha mẹ ruột ở, từ đó vợ chồng sống ly thân gần 02 năm nay. Nhận thấy, vợ chồng không còn hạnh phúc, hôn nhân không thể tồn tại được.

Nay chị T yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn Vũ P;

- Về con chung: Yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên toà, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

[1] Về tố tụng: Tại phiên toà, bị đơn Nguyễn Vũ P, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không rõ lý do, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng bị đơn P.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Từ năm 2014 đến nay, chị Võ Thị Diễm T và anh Nguyễn Vũ P tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 9 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP,  ngày 06/01/2016  về  việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P. Cho nên, yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Trong thời kỳ chung sống như vợ chồng, chị T và anh P có một người con chung tên là Võ Thị Bé L, sinh ngày 27/9/2015, hiện do chị T nuôi dưỡng, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung này.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, các khoản 1, 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Toà án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

Xét thấy, cháu Võ Thị Bé L từ nhỏ đã được người mẹ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho nên phải giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý. Nếusau này người mẹ nuôi dưỡng không tốt thì người cha có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Võ Thị Bé L, sinh ngày 27/9/2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này cho anh P, không ai được ngăn cản.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T đối với anh P.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Buộc chị T phải chịu 300.000đ.

[7] Tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 9, 14, 71, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016 về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Diễm T, tuyên bố không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Diễm T và anh Nguyễn Vũ P.

2) Về con chung: Chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Thị Bé L, sinh ngày 27/9/2015 đến tuổi trưởng thành, anh P được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này, không ai được ngăn cản.

3) Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T đối với anh P.

4) Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
 
5) Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị T phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0009303, ngày 04/10/2017, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách. Như vậy, chị T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

6) Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


68
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về