Bản án 65/2018/DS-ST ngày 08/11/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 65/2018/DS-ST NGÀY 08/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2018/TLST-DS, ngày 06 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2018/QĐXXDS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Đường B, khu phố 2, phường 2, thị xã K, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Danh D, sinh năm 1963 và bà Thái Thị H, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

Bà N có mặt, ông D và bà H vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều N và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Kiều N trình bày: Ông Danh D và bà Thái Thị H là vợ chồng hợp pháp. Hiện nay, quan hệ hôn nhân giữa ông D và bà H vẫn còn tồn tại. Từ năm 2015 đến năm 2017, ông D và bà H có mua thức ăn chăn nuôi của bà N rất nhiều lần. Ông D và bà H có mua có trả tiền nhưng còn thiếu lại một số tiền nên đến ngày 29 tháng 3 năm 2018, hai bên chốt nợ thì ông D và bà H còn nợ lại bà N số tiền gốc 47.665.000 đồng. Ông D có ký nhận nợ trong sổ mua bán. Bà N có tiến hành đòi nợ nhiều lần nhưng ông D và bà H vẫn không trả thêm được khoản tiền gốc nào. Khi mua bán, ông D và bà H không cầm cố, thế chấp tài sản gì cho bà N. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ông D và bà H phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền mua thức ăn chăn nuôi gốc là 47.665.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Yêu cầu, đề nghị của bị đơn - Ông Danh D trình bày: Ông Danh D và bà Thái Thị H là vợ chồng. Ông D và bà H thừa nhận còn nợ lại bà N số tiền mua thức ăn chăn nuôi gốc là 47.665.000 đồng. Đây là khoản nợ chung của ông D và bà H. Khi mua bán, ông D và bà H không cầm cố, thế chấp tài sản gì cho bà N. Ông D và bà H chăn nuôi heo bị thua lỗ nên xin bà N cho trả dần làm 02 lần, lần 01 vào ngày 20 tháng 12 năm 2018 âm lịch trả 15.000.000 đồng, lần 02 vào ngày 15 tháng 3 năm 2019 âm lịch trả 32.665.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đã tống đạt hợp lệ đối với bà H nhưng bà H không đến tham dự các phiên hòa giải theo quy định pháp luật. Đồng thời, bà H cũng không gửi văn bản nêu ý kiến về việc bà N khởi kiện yêu cầu ông D và bà H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của bà N. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Kho - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Trong quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng quy định như việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo các Điều 48, 49, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách những người tham gia tố tụng, việc gửi hồ sơ sang Viện kiểm sát đúng pháp luật, trong xét xử đảm bảo cho các bên thực hiện quyền tranh luận và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, về nội dung vụ việc: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa thì có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông D và bà H phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền mua thức ăn chăn nuôi gốc là 47.665.000 đồng; buộc ông D và bà H phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 47.665.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng mua bán tài sản, bị đơn là ông D và bà H có địa chỉ tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã K theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về sự vắng mặt của ông D và bà H tại phiên tòa: Ông D và bà H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông D và bà H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D và bà H là phù hợp theo các Điều 177,227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 [3] Về yêu cầu khởi kiện của bà N khởi kiện yêu cầu ông D và bà H phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền mua thức ăn chăn nuôi gốc 47.665.000 đồng là có chứng cứ chứng minh thể hiện qua sổ mua bán giữa các bên do ông D ký nhận nợ. Đồng thời, được ông D thừa nhận nợ, đồng ý trả nợ và xác định là nợ cH của ông D và bà H tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 02 tháng 10 năm 2018. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và yêu cầu khởi kiện của bà N là buộc ông D và bà H phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền gốc 47.665.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với các Điều 288, 430, 440 của Bộ luật dân sự; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình.

 [4] Về đề nghị xin trả dần của ông D: Không được bà N đồng ý, pháp luật cũng không quy định nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết.

 [5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông D và bà H phải có nghĩa vụ liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 47.665.000 đồng nộp sung ngân sách nhà nước; bà N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 288, 430, 440 của Bộ luật dân sự; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình; các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều N, buộc ông Danh D và bà Thái Thị H phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kiều N số tiền 47.665.000 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí:

2.1 Án phí của vụ án là 2.383.000 đồng (hai triệu ba trăm tám mươi ba nghìn đồng). Buộc ông Danh D và bà Thái Thị H phải có nghĩa vụ liên đới chịu 2.383.000 đồng (hai triệu ba trăm tám mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơthẩm nộp ngân sách nhà nước.

2.2 Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Kiều N 1.192.000 đồng (một triệu một trăm chín mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí D sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0006904 ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã K.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt đương sự, báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2018/DS-ST ngày 08/11/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:65/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị Xã Kiến Tường - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về