Bản án 63/2017/DS-ST ngày 24/08/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 63/2017/DS-ST NGÀY 24/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 24 tháng 8 năm 2017 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 619/2016/TLST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2016 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2017/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 171/2017/QĐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1956

Địa chỉ: 102 Đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh..

2. Bị đơn: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1969

Địa chỉ: A3/9 Đường D, ấp E, xã F, huyện I, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông T có mặt tại phiên tòa; Ông Q vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 05/12/2016, bản tự khai ngày 06/01/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn Ông Lê Văn T trình bày:

Ông và Ông Phạm Văn Q có mối quan hệ quen biết.

Vào ngày 03/6/2014 ông có cho Ông Q vay số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), thời hạn vay 01 tháng, không lãi suất. Khi vay tiền, Ông Q có viết giấy vay tiền cho ông.

Ngày 05/3/2015 Ông Q tiếp tục vay thêm ông số tiền 23.500.000 đồng (hai mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng), thời hạn vay 01 tháng, không lãi suất. Ông viết giấy vay tiền và Ông Q ký tên vào giấy vay tiền.

Từ khi vay tiền đến nay, Ông Q chưa trả ông bất cứ khoản tiền nào. Tính đến nay Ông Q còn nợ ông số tiền 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng). Ông yêu cầu Ông Phạm Văn Q trả số tiền 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu Ông Q trả lãi suất.

Ngoài ra, ông không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

Bị đơn Ông Phạm Văn Q vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đ ồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ “giấy vai tiền” lập ngày 03/6/2014 Ông Phạm Văn Q ký vay của Ông Lê Văn T số tiền 5.000.000 đồng; căn cứ “giấy vai tiền” lập ngày 05/3/2015 Ông Q ký vay của Ông T số tiền 23.500.000 đồng.

Do Ông Q không đến Tòa án tham gia tố tụng nên Ông Q phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Qua các tài liệu chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và các chứng cứ Tòa án thu thập thì có cơ sở xác định Ông Q có vay tiền của Ông T với số tiền 28.500.000 đồng, việc vay tiền có các giấy vay tiền. Đến hạn thanh toán nợ nhưng Ông Q không trả tiền cho Ông T là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của Ông T là có cơ sở chấp nhận.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của Ông T về việc yêu cầu Ông Q phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng). Ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [2] Ông Lê Văn T khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với Ông Phạm Văn Q. Theo kết quả xác minh của công an xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh thì Ông Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ A3/9 Đường D, ấp E, xã F, huyện I, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

 [3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Phạm Văn Q đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Ông Q là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

 [4] Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được thực hiện vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực, nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.

 [5] Căn cứ vào “giấy vai tiền” ngày 03/6/2014, “giấy vai tiền” ngày 05/3/2015, bản tự khai của Ông Lê Văn T, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của Ông T tại phiên tòa thì có cơ sở xác định vào ngày 03/6/2014 Ông Phạm Văn Q có vay của Ông T số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) với thời hạn 01 (một) tháng, không lãi suất và ngày 05/3/2015 Ông Q tiếp tục vay của Ông T số tiền 23.500.000 đồng (hai mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng) với thời hạn 01 (một) tháng, không lãi suất.

 [6] Giấy vay lập ngày 03/6/2014 và ngày 05/3/2015 thể hiện thời hạn vay là 01 tháng tính từ ngày vay tiền. Trong quá trình giải quyết vụ án, Ông T xác nhận Ông Q chưa trả bất kỳ khoản tiền nào cho Ông T. Ông Phạm Văn Q đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của Ông T nhưng Ông Q không đến Tòa trình bày ý kiến, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử theo quy định mà vắng mặt không có lý do. Ông Q đã tự từ bỏ quyền chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để giải quyết vụ án.

 [7] Khoản 1 Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng chất lượng”.

 [8] Khoản 1 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

 [9] Khoản 4 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ”.

 [10] Đến hạn trả nợ theo thỏa thuận nhưng Ông Q không trả nợ cho Ông T nên Ông Q phải trả thêm lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Tuy nhiên, tại phiên tòa, Ông T xác định không yêu cầu Ông Q trả lãi suất, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

 [11] Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử buộc Ông Phạm Văn Q có trách nhiệm trả cho Ông Lê Văn T số tiền nợ gốc 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng) ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

 [12] Nếu Ông Phạm Văn Q chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo án tuyên thì Ông Q còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

 [13] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể, Ông Phạm Văn Q phải chịu 1.425.000 đồng (một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 471, khoản 1 và khoản 4 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Lê Văn T.

2. Buộc Ông Phạm Văn Q có trách nhiệm trả cho Ông Lê Văn T số tiền 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng) theo phương thức trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Nếu Ông Phạm Văn Q chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo án tuyên thì Ông Q phải trả thêm lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Các bên giao nhận tiền tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Hủy “giấy vai tiền” lập ngày 03/6/2014 và “giấy vai tiền” lập ngày 05/3/2015 giữa Ông Lê Văn T và Ông Phạm Văn Q.

4. Về án phí:

4.1. Ông Phạm Văn Q chịu 1.425.000 đồng (một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4.2. Hoàn lại cho Ông Lê Văn T số tiền tạm ứng án phí 712.500 đồng (bảy trăm mười hai ngàn năm trăm đồng) mà Ông T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0021430 ngày 15/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


78
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2017/DS-ST ngày 24/08/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:63/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 24/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về