Bản án 42/2017/DSST ngày 20/07/2017 về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 42/2017/DSST NGÀY 20/07/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 20/7/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 59/2017/TLST - DS ngày 16/3/2017, về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 70/2017/QĐST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Tài Chính L

Trụ sở: Tầng 2, Tòa nhà RT, Số 19, Đường Đoàn Văn B, Phường 22, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của công ty: Ông Lô Bằng G sinh năm 197t. Địa chỉ: Số 099, Đội C, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Là người đại diện theo pháp luật (Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên).

Người đại diện hợp pháp của ông G: Ông Lê Hiền T. Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà RT, Số 19, Đường Đoàn Văn B, Phường 22, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo uỷ quyền (Theo văn bản uỷ quyền ngày 09/02/2017) (Chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý Trung tâm thu hồi nợ khối quản trị rủi ro).

Người đại diện hợp pháp của ông T: Anh Phạm Ngọc K, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số 6, Đường M, Phường 4, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Là người đại diện theo uỷ quyền (Theo văn bản uỷ quyền ngày 14/02/2017).

- Bị đơn: Lê Đình Nhựt K, sinh năm 1994.

Địa chỉ: số 99, Đường H, tổ 3, khóm M,  phường P, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của ông K là: Nguyễn Lê Sỹ P, sinh năm 1984. Địa chỉ: khóm 04, phường 6, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp. Là người đại diện theo uỷ quyền (Theo văn bản uỷ quyền ngày 19/7/2017).

(Nguyên đơn theo ủy quyền, bị đơn theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện nguyên đơn Công ty Tài chính L (goi tắt là L)trình bày: Ngày 23/7/2015, Lê Đình Nhựt K có ký hợp đồng tín dụng số 20150723-125031-0016 với Công ty Tài chính L vay số tiền 29.487.770 đồng với lãi suất 4.59%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thoả thuận tại hợp đồng, K có trách nhiệm thanh toán số tiền 45.118.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 19 tháng, 18 tháng đầu, mỗi tháng trả 2.360.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.638.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiền bắt đầu từ ngày 01/9/2015.

Thực hiện hợp đồng, khách hàng Lê Đình Nhựt K đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán được 8 lần với số tiền 18.880.000 đồng. Kể từ ngày 20/6/2016 đến nay, anh K không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù L đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Tại phiên hòa giải ngày 07/7/2017 Công ty Tài chính L yêu cầu anh Lê Đình Nhựt K thanh lý hợp đồng một lần theo phương thức như sau:

+ Trả toàn bộ khoản nợ đến hạn là 18.880.000 đồng.

+ Trả toàn bộ khoản nợ gốc chưa đến hạn là 6.719.170 đồng. Tổng số tiền anh K phải thanh toán là 25.599.170 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện cho Công ty Tài chính L bày: Toàn bộ khoản nợ của Lê Đình Nhựt K đã đến hạn thanh toán nên yêu cầu thanh toán một lần số tiền vốn và lãi tính đến ngày 20/7/2017 như sau:

+ Tiền nợ gốc là 20.201.603 đồng.

+ Tiền lãi 6.036.397 đồng.

Tổng cộng các khoản là 26.238.000 đồng.

Trường hợp không thanh toán được thì anh K phải trả lãi theo lãi suất 1%/tháng (12%/ năm).

- Bị đơn Lê Đình Nhựt K trình bày:

Anh thừa nhận có vay tiền theo hợp đồng tín dụng số 20150723-125031- 0016 với Công ty Tài chính L như phía đại diện L trình bày. Do trong thời gian thực hiện hợp đồng anh bị thất nghiệp nên chưa có điều kiện thanh toán cho L. Đến nay số tiền chưa thanh toán được đúng như phía L yêu cầu.

Tại phiên hòa giải anh Lê Đình Nhựt K đồng ý trả số nợ trên theo yêu cầu của Công ty Tài chính L nhưng không đồng ý thanh toán một lần vì hiện tại không có điều kiện và thu nhập để trả nợ một lần.

Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của Lê Đình Nhựt K trình bày: thừa nhận các khoản vay và số tiền còn thiếu như yêu cầu của Công ty Tài chính L và đồng ý trả các khoản nợ trên theo qui định của pháp luật.

Về chứng cứ các bên đã thống nhất: Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng; Văn bản thoả thuận; Bảng chiết tính tiền vốn và lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Lê Đình Nhựt Khoa trả tiền vốn vay và lãi theo hợp đồng vay ký kết giữa hai bên nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có địa chỉ tại thành phố Cao Lãnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố Cao Lãnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Xét Hợp đồng số 20150723-125031-0016 giữa Lê Đình Nhựt K với Công ty Tài chính L cho thấy:

+ Tổng vay số tiền 29.487.770 đồng với lãi suất 4.59%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thoả thuận tại hợp đồng, Lê Đình Nhựt K có trách nhiệm thanh toán số tiền 45.118.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 19 tháng, 18 tháng đầu, mỗi tháng trả 2.360.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.638.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiền bắt đầu từ ngày 01/9/2015. Thực hiện hợp đồng, Lê Đình Nhựt K đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho L 8 lần với số tiền 18.880.000 đồng. Kể từ ngày 20/6/2016 đến nay, anh K không thanh toán thêm bất cứ khoản nào. Tổng dự nợ đến ngày xét xử sơ thẩm là: Nợ gốc là 20.201.603 đồng; Tiền lãi 6.036.397 đồng. Tổng cộng các khoản là 26.238.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Công ty Tài chính L  yêu cầu ông Lê Đình Nhựt K trả số tiền vốn và lãi đến ngày 20/7 /2017 là 26.238.000 đồng.

Về lãi suất chậm trả: Trường hợp Lê Đình Nhựt K không thanh toán được một lần thì anh K phải trả lãi chậm trả theo lãi suất 1%/ tháng (12%/ năm).

- Xét yêu của Công ty Tài chính L về phần yêu cầu trả vốn còn thiếu và trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ. Bởi vì, số tiền yêu cầu phù hợp với hợp đồng hai bên đã ký kết và phía Lê Đình Nhựt K cũng thừa nhận và đồng ý trả số tiền vay còn thiếu và trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng giữa hai bên . Dó đo, yêu cầu của Công ty Tài chính L là có căn cứ nên anh Lê Đình Nhựt K phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính L số tiền là 26.238.000 đồng là phù hợp.

Về lãi suất chậm trả: Anh Lê Đình Nhựt K đồng trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất 1%/ tháng (12%/ năm) theo yêu cầu Ngân hàng.

- Xét yêu của Công ty Tài chính L yêu cầu Lê Đình Nhựt Khoa thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ trên cho L; yêu cầu này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí thì anh Lê Đình Nhựt K phải chịu án dân sự sơ thẩm là 1.312.000 đồng do yêu cầu Công ty Tài chính L được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 92; Điều 147; Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466; 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí.

* Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của Công ty Tài Chính L

- Buộc anh Lê Đình Nhựt K có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính L số tiền nợ gốc là 20.201.603 đồng, tiền lãi 6.036.397 đồng. Tổng cộng các khoản là 26.238.000 đồng (hai mươi sáu triệu hai trăm ba mươi tám ngàn).

- Về lãi suất chậm trả: Hai bên thống nhất lãi suất chậm trả là 1%/tháng.

Kể từ khi Công ty Tài chính L có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền trên, nếu anh Lê Đình Nhựt K chậm trả tiền thì phải trả lãi suất theo thỏa thuận là 1%/tháng (12%/năm) đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

* Về án phí:

- Trả lại cho Công ty Tài chính L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 640.000 đồng theo biên lai thu số 08596 ngày 14/3/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Anh Lê Đình Nhựt K phải chịu số tiền 1.312.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


152
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2017/DSST ngày 20/07/2017 về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:42/2017/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về