Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 19/10/2018 về tranh chấp xác định con cho cha

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 61/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/10/2018 VỀ TRANH CHẤP XÁC ĐỊNH CON CHO CHA

Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2018/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp xác định con cho cha theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 652/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 706/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tùng A; nơi ĐKHKTT: Tổ H khu M, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: Số 5/212 đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Trà M; nơi cư trú: Số 5/212 đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Hùng A; nơi cư trú: Số6/36 đường D, phường D, quận L,  thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ dân sự về tranh chấp xác định con cho cha và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Tùng A trình bày:

Đầu năm 2015, anh và chị Trần Thị Trà M có quan hệ tình cảm với nhau và chị M đã có thai. Khi đó chị M có chồng và đang làm thủ tục ly hôn với chồng là anh Đặng Hùng A. Đến ngày 04/9/2016, chị Trần Thị Trà M và anh Đặng Hùng A ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 265/2015/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Ngày 02/02/2016, chị Trần Thị Trà M đã sinh một con gái dự định đặt tên là Nguyễn Trần Bảo Anh theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016.

Anh Nguyễn Tùng A đã làm xét nghiệm ADN tại Trung tâm Phân tích ADN và Công nghệ di truyền (CGAT Việt Nam), kết luận như sau: Cháu Nguyễn Trần Bảo Anh, sinh ngày 02/02/2016 theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con của anh Nguyễn Tùng A, giới tính nam, sinh ngày 19/11/1987, CMT:100915269 và chị Trần Thị Trà M, giới tính nữ, sinh ngày 13/6/1989, CMT: 031501901.

Nay, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của con nên anh Nguyễn Tùng A đề nghị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xác định cháu gái do chị Trần Thị Trà M sinh ra, dự định đặt tên là Nguyễn Trần Bảo Anh theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con đẻ của anh.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trần Thị Trà M trình bày:

 Chị xác nhận chị và anh Đặng Hùng A trước đây là vợ chồng. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn nên chị và anh Đặng Hùng A đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, chị quen biết, có tình cảm và có thai với anh Nguyễn Tùng A.

Ngày 04/9/2016, chị và anh Đặng Hùng A đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 265/2015/QĐST- HNGĐ của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Ngày 02/02/2016, chị đã sinh một con gái tại Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh.

Chị M khẳng định con gái chị sinh ra ngày 02/02/2016 là con đẻ của anh Nguyễn Tùng A. Anh Nguyễn Tùng A đã đi xét nghiệm ADN tại Trung tâm Phân tích ADN và Công nghệ di truyền (CGAT Việt Nam), kết luận: Cháu Nguyễn Trần Bảo Anh, sinh ngày 02/02/2016 theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con của anh Nguyễn Tùng A và chị Trần Thị Trà M. Vì vậy, chị M đề nghị Tòa án xác định con gái chị sinh ra dự định đặt tên là Nguyễn Trần Bảo Anh theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con đẻ của anh Nguyễn Tùng A.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Hùng A trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đặng Hùng A vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không lấy được lời khai của anh Đặng Hùng A.

Quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thu thập chứng cứ của hai bên gia đình nguyên đơn, bị đơn, gia đình đều xác nhận có biết việc chị Trần Thị Trà M chung sống và có thai với anh Nguyễn Tùng A trong thời gian chị Trần Thị Trà M và chồng là Đặng Hùng A chưa ly hôn. Ngày 04/9/2016, chị Trần Thị Trà M và anh Đặng Hùng A đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 265/2015/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Ngày 02/02/2016, chị Trần Thị Trà M đã sinh một con gái tại Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh.

Trung tâm Phân tích ADN và Công nghệ di truyền (CGAT Việt Nam) đã kết luận: Cháu Nguyễn Trần Bảo Anh, sinh ngày 02/02/2016 theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con của anh Nguyễn Tùng A, giới tính nam, sinh ngày 19/11/1987, CMT:100915269 và chị Trần Thị Trà M, giới tính nữ, sinh ngày 13/6/1989, CMT: 031501901. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Tùng A, xác định con gái chị Trần Thị Trà M sinh ra dự định đặt tên là Nguyễn Trần Bảo Anh theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con đẻ của anh Nguyễn Tùng A.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của pháp luật về việc có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định cháu bé do chị Trần Thị Trà M sinh ra dự định đặt tên là Nguyễn Trần Bảo Anh theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con đẻ của anh Nguyễn Tùng A. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng:

+ Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

[1] Đây là vụ án tranh chấp xác định con cho cha theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn chị Trần Thị Trà M cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

[2] Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Hùng A nhưng anh Đặng Hùng A đều vắng mặt. Tại phiên tòa lần thứ hai anh Hùng A vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Đặng Hùng A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Nguyễn Tùng A và chị Trần Thị Trà M có quan hệ tình cảm và chị M có thai trong thời gian chị Trần Thị Trà M và anh Đặng Hùng A đang là vợ chồng hợp pháp. Ngày 04/9/2016, chị Trần Thị Trà M và anh Đặng Hùng A đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 265/2015/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[4] Ngày 02/02/2016, chị Trần Thị Trà M đã sinh một con gái dự định đặt tên là Nguyễn Trần Bảo Anh. Từ khi ly thân, ly hôn với anh Hùng A và sinh cháu Nguyễn Trần Bảo Anh cho đến nay, chị M, anh Tùng A và cháu Bảo Anh chung sống cùng một nhà, được gia đình chị M, anh Tùng A xác nhận.

[5] Trung tâm Phân tích ADN và Công nghệ di truyền (CGAT Việt Nam) đã kết luận: Cháu Nguyễn Trần Bảo Anh, sinh ngày 02/02/2016 theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con của anh Nguyễn Tùng A, giới tính nam, sinh ngày 19/11/1987, CMT:100915269 và chị Trần Thị Trà M, giới tính nữ, sinh ngày 13/6/1989, CMT: 031501901.

[6] Từ phân tích và đánh giá như trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cháu bé do chị Trần Thị Trà M sinh ra dự định đặt tên là Nguyễn Trần Bảo Anh theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con đẻ của anh Nguyễn Tùng A.

- Về án phí:

[7] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[8] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tùng A về việc xác định con cho cha.

Xác định cháu bé do chị Trần Thị Trà M sinh ra dự định đặt tên là Nguyễn Trần Bảo Anh theo Giấy chứng sinh số 0000496 do Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 02/02/2016 là con đẻ của anh Nguyễn Tùng A.

2. Về án phí:

Chị Trần Thị Trà M phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Nguyễn Tùng A số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014601 ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Nguyên đơn anh Nguyễn Tùng A, bị đơn chị Trần Thị Trà M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Hùng A được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 19/10/2018 về tranh chấp xác định con cho cha

Số hiệu:61/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về