Bản án 60/2019/HS-ST ngày 19/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 60/2019/HS-ST NGÀY 19/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Đăng N; tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16/5/1981, tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đăng T, sinh năm 1945 và con bà Bùi Thị N, sinh năm 1947; có vợ là Bạc Thị D, năm 1989 và có 01 người con, sinh năm 2017; tiền sự: Không, tiền án: Có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử sơ thẩm và Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phúc thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/4/2019, tạm giam ngày 07/4/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 01/04/2019 bị cáo Bùi Đăng N một mình đi bộ từ nhà ở Khối T, Thị trấn T, huyện T ra đường Quốc lộ 6 (Cổng treo biển khối văn hóa khối T, thị trấn T) bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết. Sau khi đứng nói chuyện, người đàn ông đó hỏi bị cáo có mua ma túy để sử dụng không, bị cáo trả lời có, người đàn ông hỏi mua bao nhiêu, bị cáo trả lời mua 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và đưa tiền cho người đàn ông đó. Nhận tiền xong người đàn ông đưa cho bị cáo 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng, bị cáo cho gói Heroine vào túi quần bên phải đang mặc và đi về nhà. Về đến nhà bị cáo N dùng dao lam lấy ra một ít để sử dụng, sau đó chia số Heroine còn lại thành 06 phần, bị cáo gói 05 phần Heroine bằng mảnh nilon màu xanh, còn 01 phần Heroine gói bằng tờ giấy xổ số và cất lên trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ của vợ chồng bị cáo. Đến ngày 03/04/2019 bị cáo sử dụng hết 04 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh, số còn lại cất giấu trên nóc tủ quần áo. Khoảng 09 giờ ngày 04/04/2019 bị cáo lấy 02 gói Heroine còn lại 01 gói được gói bằng giấy nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng tờ giấy xổ số, sang phòng anh trai của bị cáo là Bùi Đăng N dùng dao lam ra cắt một ít trong gói giấy ra sử dụng (hít), sau đó bị cáo gói lại bằng tờ giấy cất giấu dưới đệm ngủ của anh trai bị cáo, còn 01 gói được gói bằng giấy nilon màu xanh bị cáo cất giấu vào túi quần bên phải bị cáo đang mặc.

Khong 16 giờ ngày 04/04/2019 khi bị cáo Bùi Đăng N đang ở nhà có Tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đến nhà, yêu cầu bị cáo có gì liên quan đến ma túy thì tự giác mang ra giao nộp. Bị cáo đã lấy gói Heroine trong túi quần ra giao nộp, Tổ công tác, Công an huyện Tuần Giáo tiến hành kiểm tra nơi ở, đã thu giữ 01 gói Heroine bị cáo cất giấu tại buồng ngủ của anh Bùi Đăng N, sau đó dẫn giải bị cáo Bùi Đăng N về Cơ quan điều tra để điều tra làm rõ hành vi phạm tội. Quá trình điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã thu giữ của bị cáo Bùi Đăng N là 0,15 gam Heroine, đã tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng và số tiền 1.400.000đ ( một triệu bốn trăm nghìn đồng).

Tại bản Kết luận giám định số: 478/GĐ-PC09 ngày 10/5/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của bị cáo Bùi Đăng N gửi giám định là ma tuý: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng thu giữ của bị cáo Bùi Đăng N là 0,15 gam”.

Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo Bùi Đăng N khai nhận: Ngày 01/4/2019 bị cáo mua 01 gói Heroine với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không quen biết, mục đích để sử dụng. Mua được Heroine bị cáo lấy ra một ít để sử dụng, số Heroine còn lại chia thành 06 phần, sau đó gói 05 phần Heroine bằng mảnh nilon màu xanh, gói 01 phần Heroine bằng tờ giấy xổ số và cất lên trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ của vợ chồng bị cáo. Ngày 03/04/2019 bị cáo sử dụng hết 04 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh. Khoảng 09 giờ ngày 04/04/2019 bị cáo lấy 02 gói Heroine còn lại sang phòng anh trai là Bùi Đăng N cắt một ít Heroine trong gói giấy xổ số ra sử dụng, sau đó bị cáo gói lại bằng tờ giấy cất giấu dưới đệm ngủ của anh N, còn gói Heroine được gói bằng giấy nilon màu xanh bị cáo cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc. Đến 16 giờ ngày 04/04/2019 khi Công an huyện Tuần Giáo đến nhà, bị cáo tự giác lấy gói Heroine trong túi quần giao nộp; Công an huyện Tuần Giáo tiến hành kiểm tra nơi ở, đã thu giữ 01 gói Heroine bị cáo cất giấu tại buồng ngủ của anh Bùi Đăng N. Quá trình điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã thu giữ của bị cáo Bùi Đăng N là 0,15 gam Heroine, đã tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng và số tiền 1.400.000đ ( một triệu bốn trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 10 tháng 6 năm 2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Bùi Đăng N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Bị cáo được hưởng án treo, nhưng thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách, nên áp dụng Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù 24 tháng đã cho hưởng án treo tại Bản án số: 68/2016/HSPT ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, được khấu trừ 24 ngày đã bị tạm giữ, tạm giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 23 (hai mươi ba) tháng 06 (sáu) ngày. Áp dụng Khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, để tổng hợp với hình phạt của bản án mới thành hình phạt chung đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,07 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy được niêm phong và 02 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng Công an đã tạm giữ không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị trả lại cho bị cáo. Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo: Ngày 01/4/2019 bị cáo Bùi Đăng N mua 01 gói Heroine với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không quen biết, mục đích để sử dụng. Mua được Heroine bị cáo đã sử dụng một ít, số Heroine còn lại chia thành 06 gói, ngày 03/04/2019 bị cáo sử dụng hết 04 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh. Khoảng 09 giờ ngày 04/04/2019 bị cáo cất giấu 01 gói Heroine bằng giấy dưới đệm ngủ của Bùi Đăng N và cất giấu gói Heroine được gói bằng giấy nilon màu xanh vào túi quần. Đến 16 giờ ngày 04/04/2019 khi Công an huyện Tuần Giáo đến nhà, bị cáo tự giác lấy gói Heroine trong túi quần giao nộp và Công an đã thu giữ 01 gói Heroine bị cáo cất giấu tại buồng ngủ của anh Bùi Đăng N. Tổng khối lượng Heroine Công an thu giữ của bị cáo Bùi Đăng N là 0,15 gam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Bùi Đăng N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố mẹ đẻ được Nhà nước tạng Huân Huy chương; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Đăng N sinh ra và lớn lên tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Được gia đình nuôi dậy cho ăn học đến hết lớp 12/12; năm 2001 học tại trường Cao đẳng cơ khí Trung ương, năm 2003 tốt nghiệp; năm 2011 nghiện chất ma túy; năm 2016 kết hôn với Bạc Thị D. Tại Bản án số: 87/2016/HSST ngày 05/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử sơ thẩm đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tuyên phạt bị cáo 24 tháng tù; bị cáo kháng cáo tại Bản án số: 68/2016/HSPT ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phúc thẩm, tuyên phạt bị cáo 24 tháng tù cho hưởng án treo. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật.

[4] Tổng hợp hình phạt: Bị cáo được hưởng án treo, nhưng thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, bị cáo phải chấp hành hình phạt tù 24 tháng đã cho hưởng án treo tại Bản án số: 68/2016/HSPT ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, khấu trừ 24 ngày đã bị tạm giữ, tạm giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 23 (hai mươi ba) tháng 06 (sáu) ngày. Căn cứ Khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ tổng hợp với hình phạt của bản án mới thành hình phạt chung đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù đối với hành vi phạm tội mới. Tổng hợp hình phạt tại Bản án số: 68/2016/HSPT ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, được khấu trừ 24 ngày đã bị tạm giữ, tạm giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 23 (hai mươi ba) tháng 06 (sáu) ngày tù với hình phạt của bản án mới thành hình phạt chung đối với bị cáo, không phạt bổ sung đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần chấp nhận.

[7] Đối với người đàn ông bị cáo khai đã bán Heroine cho bị cáo vào ngày 01/4/2014. Bị cáo khai không biết tên, tuổi địa chỉ ở đâu, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác mình làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đi với số tiền 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng) Công an huyện Tuần Giáo đã tạm giữ khi khám xét nơi ở của bị cáo. Xét thấy, số tiền trên là của anh Bùi Đăng N, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, ngày 15/5/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả số tiền trên cho anh N là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,07 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy được niêm phong và 02 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng, cần tịch thuy tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng Công an đã tạm giữ không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.

[10] Án phí: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 2 Điều 56; Khoản 5 Điều 65; Điểm c Khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a Khoản 2, 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đăng N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Đăng N 18 (mười tám) tháng tù đối với hành vi phạm tội mới. Tổng hợp với 24 tháng đã cho hưởng án treo tại Bản án số: 68/2016/HSPT ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, khấu trừ 24 ngày bị tạm giữ, tạm giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 23 (hai mươi ba) tháng 06 (sáu) ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 41 (bốn mươi mốt) tháng 06 (sáu) ngày tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 04/4/2019.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,07 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy được niêm phong và 02 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng theo Phiếu nhập kho số: PNKVC 69 ngày 13/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19/7/2019).


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2019/HS-ST ngày 19/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:60/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 19/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về