Bản án 60/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 60/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 867/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị Thùy D, sinh năm 1993 (có mặt).

Đa chỉ: khu 1, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Dương Ngọc T, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Đa chỉ: thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 10/12/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị Thùy D trình bày:

Chị với anh Dương Ngọc T kết hôn năm 2017 trên cơ sở quen biết, có đăng ký kết hôn ở Ủy ban nhân dân thị trấn C. Chung sống đến tháng 9/2018 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ đó đến nay. Về con chung: anh chị có 01 con chung Dương Cao Quốc D, sinh ngày 01/9/2018 hiện sống với chị D. Về tài sản chung và nợ chung không có. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh T, chị xin được nuôi con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 700.000đồng/tháng.

Bị đơn anh Dương Ngọc T vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự: Chị Cao Thị Thùy D có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc hôn nhân của chị với anh Dương Ngọc T có địa chỉ tại số khu 1, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đối với anh Dương Ngọc T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì về việc vắng mặt của anh do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh T xác lập quan hệ vợ chồng năm 2017 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện Cái Bè, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến tháng 9/2018, thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân cho đến nay. Theo chị D trình bày thì do tính tình không hợp nhau, thường xuyên xung đột cự cải lẫn nhau.

Trong thời gian ly thân hai anh chị cũng không có biện pháp nào hòa giải đoàn tụ. Nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị D cương quyết xin ly hôn, cho thấy mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D là cho chị được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Dương Cao Quốc D, sinh ngày 01/9/2018. Chị D xin nuôi con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 700.000đồng/tháng.

Nhận thấy anh chị có 01 con chung chưa thành niên, từ khi hai anh chị sống ly thân cháu sống với chị D. Còn anh T không có ý kiến gì về việc nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên tiếp tục giao con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Về việc cấp dưỡng nuôi con chị D yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 700.000đồng/tháng là hợp lý nên chấp nhận.

- Về tài sản chung; Nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1, khoản 5, Điều 28; Điểm a, khoản 1 Điều 35; Điểm a, khoản 1, Điều 39; Khoản 4, Điều 147; Điều 273; điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

- Căn cứ vào Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ vợ chồng:

Cho chị Cao Thị Thùy D được ly hôn với anh Dương Ngọc T.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Dương Cao Quốc D, sinh ngày 01/9/2018 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Dương Cao Quốc D mỗi tháng 700.000 đồng đến khi đủ 18 tuổi. Thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày anh chị D có đơn yêu cầu thi hành về phần tiền cấp dưỡng, nếu anh T chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định pháp luật.

Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định pháp luật.

3. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 09659, ngày 20/12/2018 của Cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nên coi như đã nộp xong.

Anh T phải chịu 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Chị D được quyền được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án, để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm vụ án.


15
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:60/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về