Bản án 58/2020/HS-ST ngày 24/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

BẢN ÁN 58/2020/HS-ST NGÀY 24/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 11 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc T - sinh năm: 1992 tại Bà Rịa- Vũng Tàu;

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Vũ Quang V, sinh năm 1962 (đã chết); Mẹ:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; gia đình bị cáo có 6 chị em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Kim P – sinh năm 1992 và 01 con sinh năm 2013.

Tiền án: Không Tiền sự: Ngày 20-3-2020, Vũ Ngọc T bị UBND xã P, huyện X áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời gian 3 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị bắt: 6-8-2020. Có mặt tại phiên tòa

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị L- sinh năm: 1964 Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. (Vắng mặt)

+ Ông Nguyễn Văn N - sinh năm: 1994 Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn B - sinh năm: 1958; địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 10-6-2020, tại một chòi hoang thuộc ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã L đã bắt quả tang Vũ Ngọc T đang cất giấu trong túi quần bên phải của mình 01 gói nylon được hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh, không màu, trong suốt.

Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nylon màu trắng (được hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt); 01 điện thoại di động hiệu Nokia X2 màu đen số sêri 355506058693166; 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu xám đen, biển số 72G1-358.11 và 01 sim điện thoại số 0933.678.207.

Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, Vũ Ngọc T khai nhận như sau:

Vũ Ngọc T bắt đầu sử dụng ma túy từ khoảng tháng 01 năm 2020. Sau đó, ủy ban nhân dân xã P phát hiện và vào tháng 3/2020 đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời gian 3 tháng. Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong thời gian giáo dục, T lại bị bạn bè rủ rê, lôi kéo, lại tiếp tục sử dụng ma túy. Vào khoảng 9 giờ ngày 10-6-2020, T gọi điện thoại cho một người đàn ông tên D (không rõ lai lịch) hẹn địa điểm để mua ma túy sử dụng. T dùng xe máy biển số 72G1-358.11 mượn của mẹ Nguyễn Thị L đến khu vực đường liên xã thuộc xã P, huyện X để mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000đồng (Năm trăm ngàn đồng) rồi cất giấy vào túi quần bên phải của mình. Tiếp theo, T điều khiển xe đến một chòi hoang thuộc ấp A, xã L, huyện Đ để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng chức năng bắt thu giữ toàn bộ tang vật như trên.

Tại bản kết luận giám định số 271/GĐMT-PC09(Đ2) ngày 19/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu, trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín được niêm phong trong một phong bì màu trắng nêu trên gửi đến giám định có khối lượng là 0,4732 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

* Về xử lý vật chứng của vụ án:

Qua xác minh 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, biển số 72G1-358.11 đứng tên chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn N nhưng ông N xác nhận đã bán cho bà Nguyễn Thị L. Bà L cho bị cáo mượn xe, không biết sử dụng đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã giao trả lại cho bà L chiếc xe này.

Tại cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 02 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội như sau:

Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt T từ 14 đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong đánh số 271 ngày 19 tháng 6 năm 2020 do Phòng kỹ thuật hình sự hoàn lại sau giám định và 01 sim điện thoại số 0933.678.207; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia X2 màu đen số sêri 355506058693166 đang tạm giữ.

Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.

Nhng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là sai và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại một chòi hoang thuộc ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Vũ Ngọc T bị phát hiện bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy nhằm mục đích sử dụng.

Căn cứ theo kết luận giám định số 271GĐMT – PC09 (Đ4) ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận: Mẫu kết tinh không màu trong suốt chứa trong 01 gói nilong thu giữ của Vũ Ngọc T có khối lượng 0,4732 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi nêu trên của Vũ Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1]: Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[4.2]: Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã ra đầu thú nên được áp dụng s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng v án:

- 01 (Một) gói niêm phong được đánh số 271 ngày 19/6/2020 bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là vật cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia X2 màu đen số sêri 355506058693166 và 01 sim điện thoại số 0933.678.207 là tài sản cá nhân của Vũ Ngọc T nhưng đã sử dụng vào mục đích phạm tội, hiện đã cũ, tình trạng bị hư hỏng nặng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét Vũ Ngọc T tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng, thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho T là D do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch rõ ràng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được và sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s Khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Vũ Ngọc T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 6 tháng 8 năm 2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong chứa ma túy (Mẫu vật còn lại sau giám định) được đánh số 271 ngày 19/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bên trong có chứa 0,4591 gam ma túy, loại Methamphetamine, có chữ ký Phó trưởng phòng Thượng tá Nguyễn Đức T, chữ ký Giám định viên Võ Thanh H, chữ ký Nguyễn Hoài H, chữ ký Nguyễn Văn B, chữ ký Đại úy Võ Mạnh Đ, chữ ký Phạm Văn T.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) sim điện thoại 0933.678.207 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia X2 màu đen, số sêri 355506058693166.

(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 05/BB ngày 02 tháng 11 năm 2020).

3. Về án phí: Vũ Ngọc T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (24/11/2020), bị cáo và Viện kiểm sát cùng cấp có quyền làm đơn kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm, đối với những người tham gia tố tụng khác thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ. Riêng, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thì có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

202
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2020/HS-ST ngày 24/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:58/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đất Đỏ - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về