Bản án 58/2017/HSST ngày 22/09/2017 về tội cướp tài sản và trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 58/2017/HSST NGÀY 22/09/2017 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 48/2017/TLST - HS ngày 14 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H(tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/01/1995 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp 4A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Số CMND 273574639; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giam ngày 19/01/2017 (có mặt).

* Người bị hại:

1/ Ông Lê Trần T, sinh năm 1985; trú tại: tổ 01, ấp 3, xã H, huyện X, tỉnh BàRịa - Vũng Tàu (có mặt).

 2/ Bà Lê Thị Bích N, sinh năm 1975; trú tại: Tổ 3, ấp 3, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

3/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; trú tại: Tổ 2, ấp Suối Lê, xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

4/ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1991; trú tại: tổ 06, ấp 2, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Hà Phạm S, sinh năm 1989; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 3/14 đường Dã Tượng, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; tạm trú tại: 489 Tỉnh lộ 10, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2/ Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1960; trú tại: Tổ 15, ấp Ph, xã T, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

3/ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1982; trú tại: Tổ 15, ấp Ph, xã T, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

4/ Ông Lê Văn Sỹ, sinh năm 1975; trú tại: Tổ 3, ấp 3, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

* Người làm chứng: Bà Đỗ Thị Bé, sinh năm 1949; trú tại: tổ 06, ấp 2, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Nguyễn Văn H trú tại ấp 4A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu sau khi chấp hành xong hình phạt tù về tội “trộm cắp tài sản”, Nguyễn Văn Hbỏ nhà sống lang thang, trong thời gian từ tháng 7 năm 2016 đến ngày 18/01/2017 đã thực hiện hai vụ cướp tài sản và hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu như sau:

* Vụ thứ nhất: Chiều ngày 16/7/2016, Nguyễn Văn Hrủ một người bạn tên Hùng (không rõ lai lịch) về huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tìm tài sản trộm cắp. Cả hai dùng xe mô tô hiệu Exciter màu đỏ trắng (không rõ biển số) của Hùng từ Thành phố Hồ Chí Minh chạy về huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Để tránh bị phát hiện, Huệ dùng biển số xe 72 giả gắn vào xe.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, cả hai về đến ngã ba xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; lúc này có ông Lê Trần T điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại xe Wave RS biển số 72E1 - 001.84 vượt qua đầu xe của Huệ làm cả hai xém ngã, Huệ tức giận tăng tốc đuổi theo khoảng 02 km thì bắt kịp, Huệ ép xe ông Trung vào lề và nói “mày chạy xe gì ghê vậy”, đồng thời yêu cầu ông Trung xuống xe để kiểm tra giấy tờ. Lúc này Huệ lấy trong túi quần ra 01 cây gậy bằng inox (gậy ba khúc dính liền) vụt mạnh để thành cây gậy ba khúc đánh liên tiếp mấy phát vào người ông Trung. Bị đánh bất ngờ, ông Trung lùi lại, thò tay định rút chìa khóa xe thì Huệ dùng gậy vụt vào tay và yêu cầu ông Trung đưa điện thoại Nokia 1600 màu đen, rồi nói “còn điện thoại hay gì nữa không thì đưa đây”, ông Trung lấy trong túi 01 điện thoại di động Iphone 6Plus do Trung Quốc sản xuất và 01 ví da bên trong có 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Nguyễn Văn M; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 72E1 - 001.84 đưa cho Huệ và nói cho xin lại giấy tờ nhưng Huệ không cho mà bỏ vào túi quần, sau đó Huệ điều khiển xe Wave vừa chiếm đoạt được, còn Hùng điều khiển xe Exciter chạy lên thành phố Hồ Chí Minh.

Lên tới nơi, Huệ bán xe mới chiếm đoạt được tại một tiệm mua xe cũ (không xác định được địa chỉ) với giá 9.000.000đ (chín triệu đồng) và giao luôn giấy đăng ký xe cho người mua; bán hai chiếc điện thoại cho một người không rõ lai lịch được 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) lấy tiền tiêu xài; còn ví da và hai giấy phép lái xe Huệ vứt bỏ ở đâu không nhớ, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá số 19/KL - HĐĐG ngày 15/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, xác định tài sản định giá gồm 01 xe gắn máy mang biển số 72E1-001.84, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ đen; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus do Trung Quốc sản xuất; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1600 màu đen tại thời điểm xảy ra vụ án có tổng giá trị là 9.625.000đ. (chín triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

* Vụ thứ hai: Ngày 25/9/2016, Nguyễn Văn Hđón xe khách “Hai Trâm” từ thành phố Hồ Chí Minh về xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 16 giờ cùng ngày Huệ về đến Xuyên Mộc, Huệ xuống xe đi bộ vào con đường đất thuộc ấp 2, xã Hòa Hưng ( con đường dẫn ra nghĩa địa Hòa Hưng); đi được khoảng 200 mét thì Huệ rẽ vào con hẻm nhỏ bên tay phải để đi vệ sinh, lúc này Huệ nhìn ra thấy bà Lê Thị Bích N điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại xe Vision màu trắng biển số 72G1 - 366.06 chạy qua, đoán bà Ngọc sẽ quay lại nên Huệ ngồi ở vệ đường phía vườn tiêu đợi khoảng 15 phút thì bà Ngọc quay lại. Khi bà Ngọc chạy ngang qua, Huệ chạy lại dùng tay đẩy bà Ngọc ngã về phía bên trái, bà Ngọc dùng tay chụp lấy tay ga thì bị Huệ dùng cây Inox (cây gậy ba khúc) vụt mạnh để thành cây gậy rồi vụt nhiều nhát vào vai và tay bà Ngọc, đồng thời dùng tay đẩy bà Ngọc ra khỏi xe, rồi nhanh chóng chiếm đoạt xe tẩu thoát lên thành phố Hồ Chí Minh. Huệ đến tiệm Game thuộc khu phố 6, quận Bình Tân gặp người bạn tên Hòa (không rõ lai lịch) liên hệ tìm người bán xe. Hòa cho số điện thoại của người tên Hoàn (không rõ lai lịch), sau đó Huệ liên hệ với người này bán xe với giá 9.000.000đ (chín triệu đồng). Huệ cho Hòa 200.000đ (hai trăm ngàn đồng), số tiền còn lại Huệ để tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận số 66/KL - HĐĐG ngày 21/10/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xác định chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu trắng, biển số 72G1 – 366.06 tại thời điểm xảy ra vụ án có giá trị là 31.290.000đ (ba mươi mốt triệu, hai trăm chín mươi ngàn đồng).

* Vụ thứ ba: Ngày 28/9/2016, Nguyễn Văn Hđón xe từ Tp. Hồ Chí Minh về xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để tìm tài sản trộm cắp; khoảng 18 giờ cùng ngày, Huệ xuống xe tại khu vực lô cao su thuộc ấp Suối Lê, xã T, huyện X; thấy căn nhà của bà Nguyễn Thị T không có cổng, trong nhà dựng một xe mô tô hiệu Airblade màu đen, biển số 72G1 - 005.42 ở phòng khách, Huệ lẻn vào nhà tìm thấy chùm chìa khóa để ở tủ ti vi nên mở khóa đẩy xe ra nổ máy chạy lên Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi Huệ ghé vào quán nước mở cốp xe kiểm tra thấy có một giấy phép lái xe và một giấy đăng ký xe 72G1 - 005.42 mang tên Nguyễn Thị T, địa chỉ: ấp Bàu Sôi, xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nên khi lên Thành phố Hồ Chí Minh, Huệ làm hợp đồng cầm xe và giao giấy tờ xe cho ông Hà Phạm S chủ tiệm cầm đồ “S T”; địa chỉ: 489 tỉnh lộ 10, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh để lấy 15.000.000đ ( mười lăm triệu đồng) còn giấy phép lái xe vứt bỏ. Đến ngày 26/12/2016, Huệ viết giấy bán xe 72G1 - 005.42 cho ông Sơn với giá 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng) để lấy thêm 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Tại bản kết luận số 10/KL - HĐĐG ngày 25/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xác định chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại xe Airblade màu đen, biển số 72G1 - 005.42 tại thời điểm xảy ra vụ án có giá trị là 20.150.000đ (hai mươi triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng).

* Vụ thứ tư: Khoảng 21 giờ ngày 17/01/2017, Nguyễn Văn Hđón xe từ Tp. Hồ Chí Minh về xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để tìm tài sản trộm cắp, Huệ vào tiệm nét chơi đến gần sáng thì vào nhà thờ Hòa Xuân thuộc ấp 2, xã Hòa Bình ngồi chơi, đến khoảng 04 giờ sáng ngày 18/01/2017, Huệ đi bộ đến một đường hẻm cách nhà thờ Hòa Xuân khoảng 100 mét thì phát hiện căn nhà của bà Nguyễn Thị Liên không có cổng, có 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Taurius, biển số 72V3 - 1931 của ông Nguyễn Văn P (con trai bà Liên) dựng ở hiên nhà nên tiến lại gần chiếc xe, do xe không có chìa khóa nên Huệ dắt xe ra dùng chân đạp thử thì nổ máy rồi điều khiển xe chạy lên thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 18 giờ ngày 18/01/2016, Huệ đến gặp ông Hà Phạm S chủ tiệm cầm đồ “S T” để bán xe, khi hai bên đang thỏa thuận giá bán thì bị Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra thu giữ tang vật.

Tại bản kết luận số 15/KL - HĐĐG ngày 28/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xác định xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Taurius, biển số 72V3 - 1931 tại thời điểm xảy ra vụ án có giá trị là 6.413.050đ (sáu triệu bốn trăm mười ba ngàn không trăm năm mươi đồng).

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Hkhai hành vi của mình như trên.

* Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Xe mô tô hiệu Honda, loại xe Airblade màu đen, biển số 72G1 - 005.42 số khung RLHJF1807AY - 520695, số máy JF27E - 0540892 kèm theo Giấy đăng ký xe đứng tên Nguyễn Thị T do ông Hà Phạm S giao nộp; Cơ quan Điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị T.

- Xe mô tô hiệu Yamaha Taurius, biển số 72V3 - 1931, số máy 16S2 - 144907, số khung RLCS16S20AY - 144911 do ông Nguyễn Văn P làm chủ sở hữu; sau khi thu giữ Cơ quan Điều tra đã trả lại xe này cho ông Nguyễn Văn P.

- Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Văn Hcác đồ vật, tài sản gồm: 01 cây gậy 3 khúc bằng Inox, dài 63cm, phần đuôi có bọc cao su màu đen; 01 bình xịt hơi cay hiệu NATO màu xanh, cao 15cm, đường kính 03cm; 01 cái kéo cán nhựa màu xanh dài 21cm; 01 cái kéo cán nhựa màu xanh dài 17cm; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen và đã chuyển toàn bộ các đồ vật, tài sản trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc để chờ Tòa án xử lý.

* Về vấn đề bồi thường thiệt hại:

- Ông Trần Trọng Trung yêu cầu Nguyễn Văn Hbồi thường số tiền 9.625.000đ (chín triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng) là giá trị chiếc xe máy và 02 chiếc điện thoại bị mất.

- Bà Lê Thị Bích N yêu cầu Nguyển Văn Huệ bồi thường giá trị xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 72G1 - 366.06 với số tiền 31.290.000đ (ba mốt triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng).

- Ông Hà Phạm S yêu cầu Nguyễn Văn Htrả lại số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng) là số tiền đã mua xe Airblade màu đen, biển số 72G1 - 005.42 số khung RLHJF1807AY - 520695, số máy JF27E - 0540892 .

Nguyễn Văn H đồng ý với yêu cầu bồi thường của ông Lê Trần T, ông Hà Phạm S và bà Lê Thị Bích N nhưng hiện nay chưa có tiền nên không thực hiện được, khi nào có sẽ bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 56/QĐ - KSĐT ngày 14 tháng 8 năm 2017 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố Nguyễn Văn Hvề tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều168 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa tòa, bị cáo Nguyễn Văn Hkhai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trang của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố.

Tại phiên tòa tòa , đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc phát biểu: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hvề tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều168, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm g khoản 1 Điều 48, điểm o, p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Văn Htừ 04 đến 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và từ 02 đến 02 năm 06 tháng tù về “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là từ 06 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa, người bị hại phát biểu ý kiến như sau:

- Ông Lê Trần T cho rằng lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Htại phiên tòa là đúng sự thật, yêu cầu Nguyển Văn Huệ bồi thường số tiền 9.625.000đ (chín triệu sáu trăm hai lăm ngàn đồng) là giá trị chiếc xe máy và 02 chiếc điện thoại bị mất và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bà Lê Thị Bích N cho rằng Nguyễn Văn Hcùng với một người khác đã cướp xe Honda Vision màu trắng, biển số 72G1 - 366.06 của mình; yêu cầu Nguyễn Văn Hbồi thường giá trị xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 72G1 - 366.06 với số tiền 31.290.000đ (ba mốt triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng). Đề nghị phạt bị cáo Nguyễn Văn Htheo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn H nói sau cùng như sau: Bản thân bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn khai báo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1/ Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

2/ Về những chứng cứ xác định có tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Hphù hợp với lời khai của người bị hại Lê Trần T, Lê Thị Bích N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn P và phù hợp với các bản kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu số 66/KL - HĐĐG ngày 21/10/2016; số10/KL - HĐĐG ngày 25/02/2017; số15/KL - HĐĐG ngày 28/02/2017; số 19/KL - HĐĐG ngày 15/3/2017; biên bản thực nghiệm điều tra ngày 08/3/2017 và các chứng cứ khác, đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn Hlà người khỏe mạnh, với bản tính tham lam, để có tiền tiêu xài, Nguyễn Văn Hđã thực hiện bốn vụ chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu như sau:

- Ngày 16/7/2016, vào lúc khoảng 23 giờ, tại khu vực xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nguyễn Văn Hvà tên Hùng (không rõ lai lịch) có hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc, dùng cây gậy ba khúc bằng inox đánh nhiều cái vào người ông Lê Trần T làm cho người bị hại không thể tự vệ được, chiếm đoạt một xe mô tô hiệu Honda Wave RS biển số 72E1 - 001.84, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus do Trung Quốc sản xuất và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1600 có tổng giá trị là 9.625.000đ.000đ (chín triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Từ những cơ sở trên đủ yếu tố kết luận Nguyễn Văn Hphạm tội “Cướp tài sản”.

- Ngày 25/9/2016, vào lúc khoảng 16 giờ, tại lô cao su thuộc ấp 2, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Nguyễn Văn Hcó hành vi dùng vũ lực, cầm cây gậy ba khúc bằng inox đánh liên tiếp nhiều cái vào người bà Lê Thị Bích N làm cho người bị hại tê liệt ý chí kháng cự để chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 72G1 - 366, giá trị là 31.290.000đ (ba mươi mốt triệu, hai trăm chín mươi ngàn đồng). Từ những cơ sở trên đủ yếu tố kết luận Nguyễn Văn Hphạm tội “Cướp tài sản”.

- Ngày 28/9/2016, vào lúc khoảng 18 giờ, tại lô cao su thuộc ấp Suối Lê, xã T, huyện X, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Nguyễn Văn Hlợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để xe mô tô trong nhà nhưng không có người trông coi, lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị T một chiếc xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen, biển số 72G1 - 005.42, giá trị là 20.150.000đ (hai mươi triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng). Từ đó, đủ yếu tố kết luận Nguyễn Văn Hphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 18/01/2017, vào lúc khoảng 04 giờ sáng, tại khu vực nhà thờ Hòa Xuân thuộc ấp 2, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Nguyễn Văn Hlợi dụng đêm tối, sơ hở của chủ sở hữu là không khóa cổng đã lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn P một chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Taurius, biển số 72V3 – 1931 có giá trị là 6.413.050đ (sáu triệu bốn trăm mười ba ngàn không trăm năm mươi đồng). Từ những cơ sở này đủ yếu tố kết luận Nguyễn Văn Hphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại điểm a Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13 có quy định: “ kể từ ngày 01/7/2016 thực hiện quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015” và căn cứ Nghị quyết số 44/2017/QH13 ngày 20/7/2016 của Quốc Hội quy định về thục hiện có lợi cho người phạm tội. Sau khi so sánh tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 133 và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 133 và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 138 có hình phạt nặng hơn so với tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 168 và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, nên áp dụng Điều 168 và Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Huệ.

3/ Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Hchẳng những xâm hại sức khỏe, tài sản của công dân mà còn gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, hành vi đó thể hiện tính coi thường pháp luật.

- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Năm 2011, Nguyễn Văn Hbị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 64/2011/HSST ngày 30/9/2011. Chấp hành xong ngày 14/11/2011.

Năm 2013, Nguyễn Văn Hbị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 38/2013/HSST ngày 24/7/2013. Chấp hành xong ngày 26/12/2014.

Theo điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 thì Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý được coi là không có án tích. Tại Bản án số 64/2011/HSST ngày 30/9/2011 và Bản án số 38/2013/HSST ngày 24/7/2013 đều xác định Nguyễn Văn Hkhi thực hiện hành vi trộm cắp là người chưa thành niên và bị kết án về tội ít nghiêm trọng. Do đó, lần phạm tội này, Nguyễn Văn Hkhông thuộc trường hợp tái phạm. Tuy nhiên, hai lần phạm tội nói trên của Nguyễn Văn Hđược xác định là có nhân thân xấu.

Trong năm 2016 và 2017, Nguyễn Văn Hthực hiện hai vụ cướp tài sản và hai vụ trộm cắp tài sản. Như vậy, Nguyễn Văn Hphạm tội nhiều lần, áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy, phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

Về tội “Cướp tài sản”: Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn Hphạm tội có sử dụng cây gậy bằng kim loại đánh nhiều cái vào người bị hại là ông Lê Trần T, bà Lê Thị Bích N (khi bà Ngọc đang chạy xe mô tô) và xô ngã bà Ngọc là thuộc trường hợp sử dụng phương tiện nguy hiểm, thủ đoạn nguy hiểm. Do đó, bị cáo phải bị xét xử theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tội “Trộm cắp tài sản”: Xét bị cáo Nguyễn Văn Hphạm tội không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, chưa đủ cơ sở xác định có tính chất chuyên nghiệp mà chỉ thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần. Do đó, lần xét xử này, bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Hđã thành khẩn khai báo, tự thú, khai nhận hai vụ cướp tài sản khi chưa bị cơ quan chức năng phát hiện, vì vậy áp dụng điểm o, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

- Về tổng hợp hình phạt: Lần phạm tội này bị cáo Nguyễn Văn Hphạm nhiều tội thì phạt bị cáo theo từng tội danh, sau đó buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của nhiều tội theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt, quy định tại Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 1999.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản đối với bị cáo Nguyễn Văn Huệ. Xét bị cáo Nguyễn Văn Hnhân xấu, phạm tội nhiều lần nên quyết định phạt quản chế bị cáo trong một thời gian nhất định sau khi hết hạn tù, dưới sự giám sát của chính quyền và nhân dân địa phương.

4/ Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Xe mô tô hiệu Honda loại xe Wave RS biển số 72E1 - 001.84 số khung JC4326BY070445, số máy JC43E - 5979948 cùng giấy đăng ký xe đứng tên ông Nguyễn Văn O, ông Nguyễn Văn O đã bán xe cho ông Lê Trần T nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia 1600 và 01 điện thoại Iphone 6Plus do Trung Quốc sản xuất thuộc quyền sở hữu của ông Lê Trần T. Đối với 02 giấy phép lái xe hạng B2, và A1 đứng tên Nguyễn Văn M. Trong quá trình điều tra, cơ quan chức năng không thu hồi được các giấy tờ, đồ vật, tài sản nêu trên. Ông Nguyễn Văn M không yêu cầu bồi thường chi phí làm lại giấy phép lái xe.

- Xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 72G1 - 366.06 số khung 5809EY518198, số máy JF58E0403972 của bà Lê Thị Bích N, Huệ đã bán cho một người tên Hoàn; Cơ quan Điều tra đã xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch của Hoàn nên không thu hồi được.

- Xe mô tô hiệu Honda, loại xe Airblade màu đen, biển số 72G1 - 005.42 số khung RLHJF1807AY - 520695, số máy JF27E - 0540892 kèm theo Giấy đăng ký xe đứng tên Nguyễn Thị T do ông Hà Phạm S giao nộp; Cơ quan Điều tra đã trả lại xe và giấy tờ xe cho bà Nguyễn Thị T. Đối với giấy phép lái xe tên Nguyễn Thị T không thu hồi đươc; bà Nguyễn Thị T không yêu cầu gì thêm. Đối với giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Huệ, do ông Sơn giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Huệ.

- Xe mô tô hiệu Yamaha Taurius, biển số 72V3 - 1931, số máy 16S2 - 144907, số khung RLCS16S20AY - 144911 do ông Nguyễn Văn P làm chủ sở hữu; sau khi thu giữ Cơ quan Điều tra đã trả lại xe này cho ông Nguyễn Văn P.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra là có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nên không đề cập xử lý lại.

- Đối với 01 cây gậy 3 khúc bằng Inox, dài 63cm, phần đuôi có bọc cao su màu đen; 01 bình xịt hơi cay hiệu NATO màu xanh, cao 15cm, đường kính 03cm; 01 cái kéo cán nhựa màu xanh dài 21cm; 01 cái kéo cán nhựa màu xanh dài 17cm; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Hlà công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Xét thấy, cây gậy ba khúc bằng Inox, bình xịt hơi cay, hai cây kéo đều không có hoặc không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại di động vẫn còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

5/ Về vấn đề bồi thường thiệt hại:

- Ông Lê Trần T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Hbồi thường số tiền 9.625.000đ (chín triệu sáu trăm hai lăm ngàn đồng) là giá trị chiếc xe máy và hai chiếc điện thoại bị mất không thu hồi được.

- Vợ chồng bà Lê Thị Bích N và ông Lê Văn Sỹ yêu cầu bị cáo Nguyển Văn Huệ bồi thường giá trị xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 72G1 - 366.06 với số tiền 31.290.000đ (ba mốt triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng).

- Ông Hà Phạm S yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Htrả lại số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng) là số tiền đã mua xe Airblade màu đen, biển số 72G1 - 005.42 số khung RLHJF1807AY - 520695, số máy JF27E – 0540892.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Văn Hđồng ý với toàn bộ yêu cầu bồi thường của ông Lê Trần T, ông Hà Phạm S và vợ chồng bà Lê Thị Bích N; sự thỏa thuận này phù hợp quy định của pháp luật nên công nhận.

6/ Về vấn đề khác: Đối với đối tượng tên Hùng cùng Nguyễn Văn Hthực hiện hành vi cướp tài sản nhưng không biết lai lịch của Hùng. Cơ quan điều tra chưa chứng minh được người tên Hùng này cùng tham gia cướp tài sản nên tách riêng để tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ sẽ đề xuất xử lý sau là phù hợp, đúng pháp luật.

7/ Vấn đề án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Hphải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hphạm các tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 33, Điều 50; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”; 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn Hphải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (19/01/2017).

Phạt quản chế bị cáo Nguyễn Văn H02 (hai) năm, sau khi hết hạn tù. Giao bị cáo Nguyễn Văn Hcho Ủy ban nhân dân xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kiểm soát, giáo dục trong thời gian quản chế. Trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự:

- Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999, các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hphải bồi thường cho ông Lê Trần T số tiền là 9.625.000đ (chín triệu sáu trăm hai lăm ngàn đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hphải bồi thường cho bà Lê Thị Bích N và ông Lê Văn Sỹ số tiền là 31.290.000đ (ba mốt triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hphải bồi thường cho ông Hà Phạm S số tiền là 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 41Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a, d khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây gậy ba khúc bằng Inox, dài 63cm, phần đuôi có bọc cao su màu đen; 01 (một) bình xịt hơi cay hiệu NATO màu xanh, cao 15cm, đường kính 03cm; 01(một) cái kéo cán nhựa màu xanh dài 21cm; 01 (một) cái kéo cán nhựa màu xanh dài 17cm.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen.  (Tất cả những tài sản, đồ vật trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo biên bản giao nhận vật chứng số 40/BB ngày 14/8/2017 giữa Công an huyện Xuyên Mộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự , bị cáo Nguyễn Văn Hphải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án:

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

6. Về quyền kháng cáo đối với Bản án:

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


106
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về