Bản án 57/2019/HS-ST ngày 25/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 57/2019/HS-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2019/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Đình H, sinh ngày 03/3/1978, tại Thái Bình. Nơi cư trú: tổ 27, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Đình R và bà Phạm Thị H; có vợ: Vũ Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 447/QĐ - UBND ngày 18/4/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm, chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội, thời hạn 12 tháng, kể từ ngày 19/4/2008. Quyết định số 6251/QĐ - XPHC ngày 25/6/2015 của Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Mức phạt: 1.500.000đồng, ngày 25/6/2015 H đã nộp tiền phạt tại kho bạc Nhà nước huyện Vũ Thư; bị cáo bi tạm giữ từ ngày 04/12/2018 đến ngày 07/12/2018 chuyển tạm giam cho đến nay.

* Người chứng kiến:

1. Anh Trần Đức T, sinh năm 1980.

Trú tại: Tổ 24, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Lại Thế Đ, sinh năm 1992.

Trú tại: Thôn T, xã Phú X, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt, anh T, anh Đ đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 04/12/2018, Phạm Đình H đi bộ từ nhà đến khu vực điếm đê sông Trà Lý thuộc địa phận tổ 27, phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình, mục đích mua ma túy đá về sử dụng. Đến nơi H gặp và mua của 01 người nam giới khoảng 30 tuổi, không biết tên địa chỉ 01 túi ma túy được gói bằng túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng trong suốt với giá 200.000 đồng, H cho túi ma túy vào trong túi quần rồi đi tìm chỗ sử dụng. Khi H đi đến khu vực gần Đền Quan thuộc tổ 27, phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình thì bị Công an phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình yêu cầu dừng lại kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Trần Đức T và anh Lại Thế Đ, H tự giác lấy từ trong túi quần ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng trong suốt, H khai nhận đó là ma túy đá vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã gói lại và niêm phong vào phong bì dán kín trên mép có chữ ký của H và người chứng kiến. Sau đó yêu cầu H, mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường Hoàng Diệu để làm việc. Thu tại túi quần bên trái của H 01 điện thoại Bavapen - B35 màu đen xám đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như bản cáo trạng đã miêu tả.

Bn cáo trạng số 49/CT-VKSTP ngày 11 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Đình H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Ti phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

* Về xử lý vật chứng:

- Tch thu tiêu hủy số Methamphetamine còn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại nhãn hiệu Bavapen - B35 nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng do Công an phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình lập ngày 04/12/2018.

- Kết luận giám định số 413/KLGĐ-PC09 ngày 04/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Phạm Đình H, sinh năm 1978, trú tại: tổ 27, phường H, thành phố Thái Bình ngày 04/12/2018 là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4289 gam.

- Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến: Anh Trần Đức T và anh Lại Thế Đ.

Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hi đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/12/2018, tại địa phận tổ 27, phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình, Công an phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình bắt quả tang Phạm Đình H có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4289 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu đã 01 lần bị quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc, 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết này được giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thu nhập thấp, không ổn định, lượng ma túy tàng trữ ít, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung. [6] Về vật chứng của vụ án:

- Số Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,4104 gam trong phong bì niêm phong số 413/KLGĐ- PC 09 ngày 04/12/2018 thu giữ của Phạm Đình H, đây là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Chiếc điện thoại nhãn hiệu Bavapen - B35 là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ tại khu vực điếm đê sông Trà Lý, tổ 27, phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Đình H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/12/2018.

3/ Về xử lý vật chứng:

- Tch thu tiêu hủy số Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,4104 gam trong phong bì niêm phong số 413/KLGĐ-PC 09 ngày 04/12/2018.

- Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại nhãn hiệu Bavapen - B35.

(Vt chứng của vụ án Công an thành phố Thái Bình đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 11/3/2019).

4/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2019).


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/HS-ST ngày 25/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:57/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về