Bản án 57/2019/HSST ngày 16/09/2019 về tội chống người thi hành công vụ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T

BẢN ÁN 57/2019/HSST NGÀY 16/09/2019 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Ngày 16/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/2019/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Qi, (tự Câu) sinh năm 2000; tại T; nơi cư trú: số 2/41, khu phố 3, thị trấn H, huyện H, tỉnh T; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1979 và bà: Nguyễn Thị Thùy Dương, sinh năm 1981; vợ, con: không có.

Tiền án: không có.

Tiền sự: Quyết định số 779/QĐ-XPVPHC ngày 24/12/2018 của Công an thị trấn H, huyện H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 27/5/2019, tạm giam ngày 02/6/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn L, sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Đa chỉ: ấp D, xã B, huyện T, tỉnh T.

Hiện đang công tác tại Công an thị trấn H, huyện H.

* Nhân chứng:

Anh Nguyễn P, sinh năm 1998 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Đa chỉ: ấp L, xã N, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Q là đối tượng nghiện ma túy và có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thuộc diện quản lý của địa phương. Vào khoảng 14 giờ ngày 27/5/2019, thực hiện kế hoạch đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm ma túy của Ban giám đốc Công an tỉnh T và kế hoạch công tác tuần được Ban chỉ huy Công an thị trấn H, huyện H phê duyệt, anh Nguyễn L là thượng úy công an phụ trách khu phố 3, thị trấn H điều khiển xe mô tô biển số 70P2-5643 chở anh Nguyễn P là chiến sĩ thực tập, mặc trang phục Công an nhân dân, làm nhiệm vụ đến nhà Q ngụ số 2/41, khu phố 3, thị trấn H, huyện H, tỉnh T để mời Q về trụ sở Công an Thị trấn kiểm tra, thử test ma túy. Mặc dù biết rõ Linh và Phúc là Công an đang làm nhiệm vụ nhưng Q không chấp hành mà còn vào trong nhà lấy dao cán bằng gỗ dài 1,28 mét (phần lưỡi bằng kim loại dài 0,39 mét, rộng 0,05 mét) rượt đuổi chém anh Linh và anh Phúc nên cả hai bỏ chạy ra ngoài đường. Sau đó, anh Linh quay lại đến gần Q để khuyên và yêu cầu bỏ dao xuống. Khi anh linh đến gần thì Q cầm dao chém 01 cái trúng vào khuỷu tay trái anh Linh gây thương tích, anh Linh bỏ chạy vào nhà người dân, Q tiếp tục cầm dao đập vào đầu xe mô tô của anh Linh làm hư hỏng cụm đèn pha phía trước. Lợi dụng lúc hai chiến sĩ công an bỏ chạy, Q ném lại cây dao, lấy xe mô tô biển số 70F4-5590 của mình bỏ trốn, đến 21 giờ 00 phút cùng ngày ra công an huyện H đầu thú. Riêng anh Linh được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị vết thương và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Q về hành vi cố ý gây thương tích.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 114/2019/TgT ngày 17/6/2019 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh T kết luận thương tích của Nguyễn L: 01 vết sẹo hình cung sau khuỷu tay trái, kích thước 3 x 0,2 cm lành tốt bờ sắc gọn; Gãy đầu trên xương trụ trái (mỏm khuỷu) can tốt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 9%, thương tích không ảnh hưởng thẩm mỹ.

Tại kết luận định giá tài sản số: 75/KLĐG-TTHS ngày 17/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 01 cụm đèn pha phía trước xe mô tô biển số 70P2-5634 trị giá 300.000 đồng Về trách nhiệm dân sự: Anh Linh không yêu cầu bồi thường.

Đi với hành vi làm hư hỏng xe mô tô của anh Linh, do thiệt hại chỉ 300.000 đồng là chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo đã bị xử phạt hành chính số tiền là 3.500.000 đồng.

Riêng hành vi “ Cố ý gây thương tích”, sau khi có kết luận điều tra, anh Linh có đơn rút yêu cầu xử lý hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã ra quyết định đình chỉ.

Tại bản Cáo trạng số: 59/QĐ-VKSHT ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1, Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố, trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Q về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1, Điều 330; Điều 38; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 09 tháng đến 15 tháng tù.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn Q trình bày lời nói sau cùng: Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với anh Linh là phù hợp với quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi của bị cáo thể hiện:

Tại phiên tòa, bị cáo Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được, cũng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có cơ sở xác định:

Khong 14 giờ ngày 27/5/2019, tại nhà số 2/4, khu phố 3, thị trấn H, huyện H, tỉnh T, Nguyễn Văn Q biết rõ anh Nguyễn L và Nguyễn Xuân Phúc là Công an thị trấn H, huyện H đến mời mình lên trụ sở Công an thị trấn để test ma túy nhưng Q không chấp hành, mà còn dùng dao rượt đuổi chém anh Linh gây thương tích, đập phá xe mô tô làm cho anh Linh và anh Phúc bỏ chạy để Q dùng xe mô tô của mình trốn thoát.

Bị cáo biết rõ anh Linh và anh Phúc là Công an thị trấn H, huyện H đang thực hiện công vụ, nhưng bị cáo đã không chấp hành mà còn dùng những lời lẽ xúc phạm, nhục mạ; dùng vũ lực cản trở, tấn công anh Linh, anh Phúc nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng được thu giữ. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1, Điều 330 Bộ luật Hình sự. Do đó, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[4] Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo tự ra đầu thú; Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị xử phạt hành chính nhưng chưa nộp phạt.

Do đó, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh T đề nghị áp dụng đối với bị cáo Q là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Đi với hành vi làm hư hỏng xe và gây thương tích cho anh Linh, anh Linh không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên ghi nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

* 01 (một) con dao cán bằng gỗ dài 1,28 mét (phần lưỡi bằng kim loại dài 0,39 mét, rộng 0,05 mét); 02 (hai) thanh kim loại hình mắc câu; 03 (ba) hộp quạt lửa; 01 (một) dụng cụ khò gas; 02 (hai) túi nhựa; 02 (hai) ống hút nhựa; 01 (một) cây kim loại dạng dũ ba khúc; 01 (một) đoạn ống nhựa UV chế tạo thành súng bắn cồn; 01 (một) con dao tự chế, cán bằng gỗ dài khoảng 40cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 40cm; 01 (một) con dao tự chế, cán bằng kim loại hình vuông dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 70cm; 01 (một) con dao tự chế, cán bằng nhựa màu trắng dài 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35cm; 01 (một) con dao tự chế, bằng kim loại dài 55cm; 01 (một) chai nhựa tự chế, cao 07 cm, đường kính 5,5cm, bên trong có chứa chất bột màu đen, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, xét thấy nên cần tịch thu tiêu hủy.

* 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1202, màu xanh, số IMEI: 353198/05/360642/1, có gắn sim Viettel, số seri 8984048000038311858, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn xanh, biển số 70F4-5590, số máy: VTMNE152FMHA003494, số khung: RRTVCHACX61003318, đã qua sử dụng, đây là tài sản của bị cáo Q. Tại phiên tòa bị cáo có yêu cầu được nhận lại số tài sản trên, xét thấy các tài sản này không liên quan đến việc phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.

lut.

[6] Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: Chng người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1, Điều 330; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/5/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) con dao cán bằng gỗ dài 1,28 mét (phần lưỡi bằng kim loại dài 0,39 mét, rộng 0,05 mét); 02 (hai) thanh kim loại hình mắc câu; 03 (ba) hộp quạt lửa; 01 (một) dụng cụ khò gas; 02 (hai) túi nhựa; 02 (hai) ống hút nhựa; 01 (một) cây kim loại dạng dũ ba khúc; 01 (một) đoạn ống nhựa UV chế tạo thành súng bắn cồn; 01 (một) con dao tự chế, cán bằng gỗ dài khoảng 40cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 40cm; 01 (một) con dao tự chế, cán bằng kim loại hình vuông dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 70cm; 01 (một) con dao tự chế, cán bằng nhựa màu trắng dài 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35cm; 01 (một) con dao tự chế, bằng kim loại dài 55cm; 01 (một) chai nhựa tự chế, cao 07 cm, đường kính 5,5cm, bên trong có chứa chất bột màu đen đã qua sử dụng. (Hiện cơ quan Thi hành án dân sự huyện H đang tạm giữ).

* Trả lại cho bị cáo Q: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1202, màu xanh, số IMEI: 353198/05/360642/1, có gắn sim Viettel, số seri 8984048000038311858, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn xanh, biển số 70F4-5590, số máy: VTMNE152FMHA003494, số khung: RRTVCHACX61003318, đã qua sử dụng. (Hiện cơ quan Thi hành án dân sự huyện H đang tạm giữ).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


20
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/HSST ngày 16/09/2019 về tội chống người thi hành công vụ

Số hiệu:57/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hưng Hà - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về