Bản án 57/2019/HS-ST ngày 05/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 57/2019/HS-ST NGÀY 05/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2019/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Mào Văn B, sinh năm 1983 tại tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mào Văn H, sinh năm 1959 và bà Đặng Thị N, sinh năm 1956; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 15-8-2012 Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ra trại ngày 24- 3-3015), ngày 01-7-2015 Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (ra trại năm 2018); tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2000 Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu (cũ) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ra trại ngày 14-3-2001); tạm giữ từ ngày 16-11-2018 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Nam Định; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 16-11-2018, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cổng G, đường T, thành phố N phát hiện Mào Văn B đang đứng một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra. Quá trình kiểm tra B đã tự giác giao nộp từ trong túi quần bên trái 03 gói giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (B khai là 3 gói heroine của B). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng ký hiệu M và đưa B cùng người làm chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ.

Bản kết luận giám định số 967/GĐKTHS ngày 17-11-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng thu giữ của Mào Văn B được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma tuý; loại ma tuý: Heroine; tổng khối lượng mẫu: 0,183 gam.

Tại cơ quan điều tra, Mào Văn B đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng và khai nhận nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 06 giờ ngày 12-11-2018, B đi xe khách một mình từ thành phố L về nhà cậu ruột ở huyện M, tỉnh Nam Định chơi. Đến khoảng 09 giờ ngày 16-11-2018 B thuê xe ôm từ nhà cậu ruột đến khu vực G xuống xe, trả tiền xe ôm rồi gặp và nhờ một người đàn ông (không rõ lai lịch) đang đứng dưới lòng đường mua hộ 03 gói heroine với giá 300.000 đồng. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền B đưa và bảo B đứng đợi rồi đi đau không rõ, khoảng 30 phút sau quay lại đưa cho B 03 gói heroine. B cất 03 gói heroine vừa mua được vào túi quần bên trái rồi đi bộ về đến trước cửa cổng G, đường T, phường T, thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ.

Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho B, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận, cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra để xác minh làm rõ, xử lý sau.

Bản cáo trạng số 45/CT-VKSTPNĐ ngày 29-01-2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Mào Văn B tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình và khai nguyên nhân bị cáo phạm tội do bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mào Văn B về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mào Văn B từ 05 năm 09 tháng tù đến 06 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ, trả lại bị cáo B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Khoảng 10 giờ ngày 16-11-2018, Mào Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,183 gam heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ tại khu vực trước cửa cổng G, đường T, phường T, thành phố N.

Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng, biên bản về việc bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Mào Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Mào Văn B đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích, lần này bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành định khung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về hình phạt:

Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần ấn định cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy bị thu giữ trong phong bì niêm phong số 967/GĐKTHS là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ là tài sản riêng của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Mào Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Mào Văn B 06 (sáu) năm tù.

- Thời hạn tù tính từ ngày 16-11-2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 967/GĐKTHS;

- Trả lại bị cáo Mào Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Mào Văn B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/HS-ST ngày 05/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:57/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về