Bản án 57/2017/HSST ngày 24/05/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 57/2017/HSST NGÀY 24/05/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 24/5/2017, tại Toà án Nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 48/2017/HSST ngày 28/4/2017 đối với bị cáo:

Tô Hoàng H(Tên gọi khác: Bé E), sinh ngày 10/4/1992 tại Gia Lai. Nơi ĐKNKTT: Tổ 5, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai;

Chỗ ở: Số 87 Ngô Gia Khảm, tổ 6, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê.

Con ông Tô Bá C, sinh năm 1969 và bà Lê Thị K, sinh năm 1971. Bị cáo có 02 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1990, bị cáo là con út; Vợ là Phạm Thị Ánh N, sinh năm 1987 và có con là Tô Phương N1, sinh năm 2015

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 09/02/2017 bị Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản.

Về nhân thân:

- Bản án số 18/2008/HSST ngày 26/02/2008 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai, xử phạt 36 tháng tù về tội: “Cướp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam Gia Trung - Cục V26 Bộ Công an; được đặc xá kể từ ngày 17/01/2009.

- Bản án số 08/2013/HSST ngày 09/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai, xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án tại Trại giam Gia Trung - Tổng cục VIII Bộ Công an; ngày 19/8/2014 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị tạm giữ từ ngày 10/02/2017; đến ngày 16/02/2017 bị khởi tố và bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Đinh Ngọc L, sinh năm 1990; trú tại: 177/12 H Quốc Việt, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Chị Phạm Thị Ánh N, sinh năm 1987; trú tại: 87 Ngô Gia K, tổ 6, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

- Chị Lê Thị L, sinh năm 1985; trú tại: Thôn Đ, xã Ia S, huyện Ia G, tỉnh Gia Lai.

Vắng mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Tô Hoàng H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 09 giờ 20 phút, ngày 10/02/2017, Tô Hoàng H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 74K1-1866 đi phát tờ rơi trên đường V, tổ 13, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi đến số nhà 177/12 đường V, tổ 13, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, H thấy cửa chính của nhà mở và không có người trông coi nên đã dựng xe đi vào trong nhà và phát hiện thấy trên tấm nệm gần cửa ra vào phòng khách có 03 chiếc điện thoại di động trong đó có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng đồng. H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đã cầm chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng đồng và đi ra hướng cửa chính. Khi đi ra tới cửa ra vào phòng khách, H bị anh Đinh Ngọc L là chủ sở hữu chiếc điện thoại di động phát hiện, bắt giữ H đồng thời trình báo sự việc với Công an phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Công an phường H đã lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ chiếc điện thoại này.

Qua trưng cầu định giá tài sản, tại Bản kết luận định giá số 24/KL-HĐĐG ngày 13/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: “01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7, Prime, Imei: 353415081462759, mua vào tháng 11/2016, sử dụng đến ngày 10/02/2017 bị chiếm đoạt; có trị giá là: 3.500.000 đồng”.

Sau khi định giá, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã xử lý trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime cho chủ sở hữu là anh Đinh Ngọc L. Sau khi nhận được điện thoại, anh L không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Đối với xe mô tô biển số 74K1-1866 xác định chủ sở hữu là chị Phạm Thị Ánh N. Vào ngày 10/02/2017, H sử dụng chiếc xe này và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì chị Nguyệt không biết. Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại chiếc xe này cho chị N.

Tại bản Cáo trạng số 57/CTr-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2017 của Viện kiểm sát Nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Tô Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tô Hoàng H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33, Điều 45; Điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; căn cứ Khoản 3 Điều 7, Điểm b Khoản 2 Điều 70 và Khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016. Xử phạt bị cáo Tô Hoàng H mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Tô Hoàng H đã khai nhận đầy đủ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang; lời khai của người bị hại, người làm chứng; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án.

Vì vậy, hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 09 giờ 20 phút, ngày 10/02/2017, tại số nhà 177/12 đường V, tổ 13, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Tô Hoàng H phát hiện thấy trên tấm nệm gần cửa ra vào phòng khách có 03 chiếc điện thoại di động không có người trông coi, trong đó có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng đồng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại này. Khi H cầm lấy chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng đồng và đi ra để tẩu thoát thị bị anh Đinh Ngọc L là chủ sở hữu chiếc điện thoại phát hiện, bắt quả tang. Qua định giá xác định chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime số Imei 353415081462759 có trị giá 3.500.000đồng.

Bị cáo H hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.Nhưng vì bị cáo muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài để thõa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp quy định của pháp luật, cố tình phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tô Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo về tội danh này theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Về nhân thân, bị cáo Tô Hoàng H có hai tiền án về tội: “Cướp tài sản” và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với tiền án về tội cướp tài sản, bị can đã đương nhiên được xóa án tích. Riêng tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 64 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì lần phạm tội này của bị cáo chưa được đương nhiên xóa án tích. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tiền án này của bị cáo được đương nhiên xóa án tích. 

Vì vậy, căn cứ Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2015 của Quốc hội; công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng những quy định có lợi của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho người phạm tội để xác định bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích đối với tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 09/02/2017, bị cáo bị Công an thành phố P xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo H có nhân thân xấu, không coi các lần bị Tòa án kết án và bị phạt tù làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội và gia đình mà vẫn tiếp tục phạm tội, điều này cho thấy bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù nghiêm khắc, tương ứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về dân sự: Trong quá trình điều tra người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không đề cấp đến.

Đối với xe mô tô mang biển số 74K1-1866, qua điều tra xác định trước đây là của bà Lê Thị L đứng tên, sau đó bà L đã chuyển nhượng lại cho chị Phạm Thị Ánh N, bà L cũng đã công nhận nay chủ sở hữu chiếc xe mô tô mang biển số 74K1-1866 là chị Phạm Thị Ánh N. Việc bị cáo H sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chị N không biết, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai đã trả lại chiếc xe này cho chị N. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Tô Hoàng H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 33; Điều 45; các điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2015 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Tô Hoàng H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 10/02/2017 

- Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Tô Hoàng H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2017/HSST ngày 24/05/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:57/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/05/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về