Bản án 56/2020/HSST ngày 11/03/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 56/2020/HSST NGÀY 11/03/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 03 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2020/HSST ngày 19/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tạ Văn Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày 28 tháng 04 năm 1980; Nơi ĐKHKTT: Tổ 16, phường Hương Sơn, TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tạ Văn Don (Đã chết),con bà: Ngô Thị Hòa; Vợ: Ngô Thị Thu Hiền, sinh năm 1983, Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án - Tiền sự: Không Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2020 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên toà).

* Người chứng kiến:

1.Ông Phạm Văn Ấ sinh năm: 1960, trú tại: Tổ 11, phường C, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 16 giờ 45 phút ngày 13/01/2020, tổ công tác Công an phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 11 của phường đã phát 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu nam thanh niên đứng lại để kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Tạ Văn Đ, sinh năm 1980, trú tại tổ 16, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên. Qua kiểm tra Đ đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Đ khai đó là Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng đã thu giữ được của Đ có khối lượng là 0,151 gam.

Tại bản kết luận số 315/C09 – TT2 ngày 17/01/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và Kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,151gam.

Tại Cơ quan điều tra Tạ Văn Đ khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 13/01/2020, Đ một mình đi đến khu vực Chợ khu nam, thuộc tổ 11, phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên với mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân, khi đến nơi Đ gặp 01 nam thanh niên không quen biết, qua giao dịch Đ mua của nam thanh niên đó 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, Đ cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi tìm chỗ vắng người qua lại để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSTPTN ngày 17/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Tạ Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giữ quyền công tố đã trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn Đ phạm tội“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn Đ: Từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 315/C09 (TT2), bên trong chứa ma túy, mặt sau có 06 dấu tròn màu đỏ của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của những người tham gia niêm phong Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói sau cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tạ Văn Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tạ Văn Đ thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, với vật chứng đã thu được,Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 16 giờ 45 phút ngày 13/01/2020, tại khu vực tổ 11, phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên, Tạ Văn Đ đang có hành vi tàng trữ 0,151 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3]. Bản cáo trạng số 65/CT-VKSTPTN ngày 17/02/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Tạ Văn Đ về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Ni dung điều 249 quy định như sau:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

[4] Về tính chất, mức độ hành vi: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng,hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do không làm chủ được bản thân nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe và phòng ngừa chung. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 315/C09 (TT2), bên trong chứa ma túy, mặt sau có 06 dấu tròn màu đỏ của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của những người tham gia niêm phong

[7].Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8].Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ Đ khai mua của một nam thanh niên không quen biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ để xử lý

Vì các lẽ trên;

n cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

1/ Xử phạt: Tạ Văn Đ 18 ( Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 13/01/2020 - Quyết định tạm giam bị cáo Tạ Văn Đ 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3/ Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 315/C09 (TT2), bên trong chứa ma túy, mặt sau có 06 dấu tròn màu đỏ của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của những người tham gia niêm phong (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số164 ngày 24/02/2020 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).

4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Tạ Văn Đ phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2020/HSST ngày 11/03/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:56/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/03/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về