Bản án 54/2020/HSST ngày 11/03/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 54/2020/HSST NGÀY 11/03/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 03 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2020/HSST ngày 19/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy S, tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 8 năm1978;Nơi ĐKHKTT: Xóm C, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Ch (Đã chết), con bà Nguyễn Thị T; Có vợ: Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1983; có 01 con sinh năm 2006.

Tiền án (1): Tại bản án số 424/2018/HSST ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 15/9/2019 Trại giam Phú S 4 - Cục C10 đã cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 1001/GCN.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam giam từ ngày 21/01/2020 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên toà).

* Người chứng kiến:

 1/ Ông Hà Việt D, sinh năm 1962, trú tại: Tổ 18, phường H, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 11 giờ 30 phút ngày 21/01/2020, tổ công tác của Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra tại tổ 14, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy, tổ công tác tiếp cận yêu cầu kiểm tra. Đối tượng khai nhận tên Nguyễn Duy S và tự giác lấy từ trong lòng bàn tay phải ra 02 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng (S khai là Heroine) giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác mời người tham gia chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong , cân xác định khôi lượng : sô chât bôt mau trăng thu giư của Nguyễn Duy S có khôi lương 0,431 gam.

Tại bản kết luận giám định số 257/KL-KTHS ngày 29/01/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu S gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,431 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy S đã khai nhận: Khoảng hơn 11 giờ 00 phút ngày 21/01/2020, S đi bộ từ nhà đến khu vực công ty xổ số, thuộc phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Tại đây S gặp và mua 02 gói ma túy được gói bằng giấy màu trắng với giá 300.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua ma túy S cất gói ma túy vừa mua được vào lòng bàn tay phải đi về tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên phát hiện. S tự giác giao nộp cho tổ công tác gói ma túy trên. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSTPTN ngày 17/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định truy tố Nguyễn Duy S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giữ quyền công tố đã trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy S: Từ 30 đến 36 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu S, bên trong chứa ma túy, mặt sau có 02 dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của những người tham gia niêm phong.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói sau cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy S không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy S thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, với vật chứng đã thu được,Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 21/01/2020, tại tổ 14, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Duy S đã có hành vi tàng trữ 0,431 gam Heroine nhăm muc đich đê sư dung cho ban thân thì bị t ổ công tác Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3]. Bản cáo trạng số 68/CT-VKSTPTN ngày 17/02/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Ni dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do không làm chủ được bản thân nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo đã có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Như vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ Luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội và cũng là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu S, bên trong chứa ma túy, mặt sau có 02 dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của những người tham gia niêm phong.

[7].Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8].Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, S khai mua của môt ngươi đàn ông không quen biết ở khu công ty xổ số, thuộc phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân lai lịch của người bán ma túy cho S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Vì các lẽ trên; 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

1/ Xử phạt: Nguyễn Duy S 30 ( Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 21/01/2020.

- Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Duy S 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu S, bên trong chứa ma túy, mặt sau có 02 dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của những người tham gia niêm phong.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 150 ngày 14/02/2020 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).

4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Duy S phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2020/HSST ngày 11/03/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:54/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/03/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về