Bản án 54/2020/HSST ngày 10/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 54/2020/HSST NGÀY 10/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 10 tháng 11 năm 2020. Tại : Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sở thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2020/HSST, ngày 09 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2020/HSST-QĐ, ngày 28/10/2020, đối với:

1. Bị cáo: Lê Văn L, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Xóm Tiên Quánh, xã ĐV, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông: Lê Văn D ( chết ) và bà Nguyễn Thị Th; vợ: Võ Thị T, sinh năm 1993; con: có 02 con sinh đôi năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

2. Người bào chữa cho bị cáo: Ông; Lê Đăng Tế, sinh năm 1945, Luật sư. Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh; Nguyễn Hữu N, sinh năm 1992.

Đa chỉ: Xóm Tường Đồng, xã ĐĐ, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 10/7/2020, Lê Văn L, sinh năm 1994, Hoàng Văn M, sinh năm 1985, Phạm Viết Th, sinh năm 2000, Lê Ngọc Tr, sinh năm 1991, Nguyễn Đình D, sinh năm 1980, Phạm Viết Ph, sinh năm 1992, Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1992 đều trú tại xã ĐV, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; Ngô Phúc H, sinh năm 1991, Nguyễn Hữu N, sinh năm 1992, Nguyễn Như Thanh Ph, sinh năm 1988 đều trú tại xã ĐĐ, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, Lê Xuân Đ, sinh năm 1990, trú tại thị trấn TC, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đến phòng hát số 202 quán KARAOKE NT ở xóm Nguyệt Bổng, xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An do Nguyễn Hữu T, sinh năm 1988, trú tại xóm 4, xã NS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An làm quản lý với mục đích để hát. Tham gia hát còn có Đặng Thị Tr, sinh năm 1995, trú tại xã NK, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; Mai Thị L, sinh năm 2001, Tống Thị T, sinh năm 2000 đều trú tại xã NL, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa và Nguyễn Ngọc U, sinh năm 2001, trú tại xã TH, huyện Lê Chân, thành phố Hải Phòng là nhân viên của quán. Trong quá trình hát thì Nguyễn Hữu N lấy 01 gói ma túy mà trước đó Nam mua của một người đàn ông không quen biết ở Hà Nội với số tiền 1.600.000 đồng với mục đích để sử dụng. Nam đổ ma túy vào chiếc đĩa sứ, dùng bật lửa đốt dưới đĩa, dùng thẻ ATM trộn ma túy, rồi dùng 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng được cuốn tròn để sử dụng ma túy bằng hình thức hút. Sau khi sử dụng ma túy xong thì Nam bị say ma túy nên nằm ngủ trên nghế trong phòng hát. Thấy ma túy trên bàn thì Lê Văn L, Hoàng Văn M, Phạm Viết Th, Lê Ngọc Tr, Nguyễn Đình D, Phạm Viết Ph, Nguyễn Văn Ph, Ngô Phúc H, Nguyễn Hữu N, Nguyễn Như Thanh Ph, Lê Xuân Đ, Mai Thị L, Tống Thị T, Nguyễn Ngọc U thay nhau sử dụng ma túy. Đến 00 giờ 30 phút ngày 11/7/2020, Tổ Công tác Công an huyện Thanh Chương phối hợp với Công an xã Ngọc Sơn, Công an xã Võ Liệt huyện Thanh Chương tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng hát số 202 quán KARAOKE NT, phát hiện và thu giữ trên bàn 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ ATM màu xanh của ngân hàng TECHCOMBANK mang tên Nguyễn Hữu N, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng được cuốn tròn dạng ống, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh đều bám dính chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy); thu giữ trong ví của Lê Văn L 01 túi ni lông màu trắng có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).

Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy thì Lê Văn L, Hoàng Văn M, Phạm Viết Th, Lê Ngọc Tr, Nguyễn Đình D, Phạm Viết Ph, Nguyễn Văn Ph, Ngô Phúc H, Nguyễn Hữu N, Nguyễn Như Thanh Ph, Lê Xuân Đ, Mai Thị L, Tống Thị T, Nguyễn Ngọc U đều dương tính với chất ma túy.

Trong quá trình điều tra Lê Văn L khai nhận gói ni lông màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng mà tổ công tác Công an huyện Thanh Chương thu giữ trong ví của Lê Văn L là do Lê Văn L mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe Lam Hồng, tỉnh Bình Dương với số tiền 1.000.000 đồng với mục đích để về sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 1031/KL-PC09 ngày 15/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Văn L gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Văn L có khối lượng là 0,970 g (Không phẩy chín trăm bảy mươi gam)”.

Tại Kết luận giám định số 1037/KL-PC09 ngày 17/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Trên chiếc đĩa sứ màu trắng hình bầu dục; trên chiếc thẻ ATM màu xanh mang tên Nguyễn Hữu N; trên tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng và trên chiếc bật lửa ga màu xanh đều bám dính chất ma túy (Ketamine) Tại bản Cáo trạng số 51 ngày 07/10/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Lê Văn L về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn L, từ 24 - 30 tháng tù. Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong ban đầu, vỏ ni lông màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh; Trả lại cho bị cáo 01 chiếc ví màu nâu, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn L. Sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng và miễn tiền án phí cho bị cáo theo quy định. Trả lại cho anh Nguyễn Hữu N, 01 thẻ ATM màu xanh của ngân hàng TECHCOMBANK mang tên Nguyễn Hữu N.

Tại phiên tòa Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ đến mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề nghị đối bị cáo, vì bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; gia đình thuộc hộ cận nghèo; trả lại các tài sản cá nhân như 01 chiếc ví màu nâu, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn L cho bị cáo; miễn tiền án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Chương, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Văn L, đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng đã thu được; phù hợp với các kết luận giám định.

Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 11/7/2020, tại phòng hát số 202 quán KARAOKE NT ở xóm Nguyệt Bổng, xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, Tổ Công tác Công an huyện Thanh Chương phối hợp với Công an xã Ngọc Sơn, Công an xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện Lê Văn L đang có hành vi cất dấu 0,970 gam ( Không phẩy, chín trăm bảy mươi gam) Methamphetamine trong Ví của Lê Văn L với mục đích để sử dụng.

Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lê Văn L, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, như Viện kiểm sát truy tố là đúng.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, ảnh hưởng đến an ninh trật xã hôị; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất ma túy; ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng chung với những người khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung và cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[4] Đối với người đàn ông ở tỉnh Bình Dương và thành phố Hà Nội là những người đã bán ma túy cho L và N. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đi với Nguyễn Hữu N là người đưa ma túy vào phòng hát để sử dụng, quá trình điều tra đã chứng minh được N là người chuẩn bị ma túy, công cụ để sử dụng ma túy, không có hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi dục những người có mặt tại phòng hát 202 sử dụng chất ma túy. Nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với N về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, mà xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đi với Nguyễn Hữu T là người được giao quản lý quán KARAOKE NT nơi các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, quá trình các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy thì T không biết, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T là có căn cứ và đúng pháp luật Đối với Lê Văn L, Hoàng Văn M, Phạm Viết Th, Lê Ngọc Tr, Nguyễn Đình D, Phạm Viết Ph, Nguyễn Văn Ph, Ngô Phúc H, Nguyễn Hữu N, Nguyễn Như Thanh Ph là những người đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện Thanh Chương đã ra Quyết định xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ và đúng pháp luật Đối với Mai Thị L, Tống Thị T, Nguyễn Ngọc U quá trình điều tra khai nhận không đúng họ tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả, nên chưa có căn cứ để xử lý, khi nào có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau.

[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra có thu phong bì niêm phong ban đầu, vỏ ni lông màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ ATM màu xanh của ngân hàng TECHCOMBANK mang tên Nguyễn Hữu N, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, 01 chiếc ví màu nâu, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn L.

Xét thấy phong bì niêm phong ban đầu, vỏ ni lông màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, là các vật chứng liên quan đến vụ án, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đi với 01 thẻ ATM màu xanh của ngân hàng TECHCOMBANK mang tên Nguyễn Hữu N, là tài sản cá nhân, cho nên trả lại cho Nguyễn Hữu N.

Đi với 01 chiếc ví màu nâu, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn L, là tài sản cá nhân, nên trả lại cho Lê Văn L.

Đi với 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy. Nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, nên miễn tiền án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L, phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

2. Xử phạt bị cáo: Lê Văn L, 27 ( Hai bảy ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2020

3. Về vật chứng:

Tch thu tiêu hủy phong bì thư niêm phong ban đầu, vỏ ni lông màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh.

Trả lại cho anh Nguyễn Hữu N, 01 thẻ ATM màu xanh của ngân hàng TECHCOMBANK mang tên Nguyễn Hữu N.

Trả lại cho bị cáo Lê Văn L, 01 chiếc ví màu nâu, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn L.

Tch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000 đồng.

( Chi tiết các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An ).

4. Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2020/HSST ngày 10/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:54/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Chương - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về