Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 26/09/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 54/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1985 – Có mặt.

Địa chỉ: 93/2 Trần Phú, khu phố NT, phường NT, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Huỳnh N, sinh năm 1984 – Có mặt.

Địa chỉ: 6/11 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14 ngày 3 năm 2019, quá trình thu thập chứng cứ, tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn - anh Nguyễn Minh T trình bày:

Anh T và chị N chung sống với nhau từ năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã NS, thị xã TN (nay là phường NS, thành phố TN), tỉnh Tây Ninh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn năm 2010. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc do không có sự quan tâm và niềm tin lẫn nhau, chị N không tôn trọng anh cũng như gia đình bên chồng, rất nhiều mâu thuẫn không giải quyết được nên anh chị sống ly thân từ 11.02.2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh T yêu cầu được ly hôn với chị N.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Minh Th, sinh ngày: 13.9.2013; Nguyễn Tuệ M, sinh ngày: 15.8.2015. Hiện con chung tên Nguyễn Minh Th đang sống chung với chị N; riêng con chung tên Nguyễn Tuệ M hiện đang sống chung với anh T. Sau khi ly hôn, anh T có yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Tuệ M, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý giao con chung Nguyễn Minh Th cho chị N nuôi dưỡng, trường hợp chị N không đồng ý thì anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Hiện anh có nghề nghiệp và thu nhập ổn định theo lương cán bộ công chức hàng tháng, anh làm việc theo giờ hành chính, nên anh có thời gian trực tiếp đưa, rước con đi học, và chăm sóc con khi con ở nhà. Nên anh có đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Anh T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 29.3.2018, quá trình thu thập chứng cứ, tại phiên Tòa hôm nay bị đơn chị Phạm Thị Huỳnh N trình bày:

Chị N thống nhất với lời trình bày của anh T về quan hệ hôn nhân, thời gian sống chung có đăng ký kết hôn, vợ chồng chị chung sống bình thường không có mâu thu ẫn, tuy nhiên sau khi anh T đi học ở Hà Nội về thì mọi thứ thay đổi, chị N nhận thấy mình đã làm tròn trách nhiệm người vợ, người mẹ, con dâu trong gia đình, nhưng anh T lại không còn tình cảm với chị và muốn ly hôn với chị, vợ chồng sống ly thân hơn 01 năm nay, không thể hàn gắn nên tại Tòa chị N cũng đồng ý ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị N thống nhất vợ chồng có hai con chung như anh T trình bày. Sau khi ly hôn, chị N có yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị N là giáo viên có nghề nghiệp và thu nhập ổn định theo lương cán bộ công chức hàng tháng, chị làm việc theo giờ hành chính, nên chị có thời gian trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Đồng thời hiện các con đều là con gái rất cần sự chăm sóc quan tâm của mẹ, chị cũng mong muốn các con được sống chung với nhau đển tình chị em được gắn kết, nên chị tha thiết được trực tiếp nuôi 02 con..

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa anh T và chị N; giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi con, ghi nhận chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: anh T, chị N không yêu cầu giải quyết; tính án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết việc hôn nhân của anh với chị N, địa chỉ: ấp Trường Phước, xã Trường Tây, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Anh T và chị N chung sống vợ chồng năm 2010, đã được Ủy ban nhân dân xã Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh (Nay là Phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh), tỉnh Tây Ninh cấp giấy Chứng nhận đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa anh chị không còn hạnh phúc, tại Tòa anh chị thống nhất tự nguyện thuận tình ly hôn, nên Tòa án công nhận sự thỏa thuận ly hôn giữa hai anh chị theo quy định Đều 55 Luật hôn nhân và gia đình là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Quá trình thu thập chứng cứ cho thấy con chung anh chị tên Nguyễn Minh Th, sinh ngày: 13.9.2013; Nguyễn Tuệ M, sinh ngày: 15.8.2015, cả hai con chung anh chị còn rất nhỏ, đồng thời đều là bé gái, rất cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Nên cần giao hai con chung cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Tại phiên tòa, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

[3] Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Minh T và chị Phạm Thị Huỳnh N.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Huỳnh N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên: Nguyễn Minh Th, sinh ngày: 13/9/2013; Nguyễn Tuệ M, sinh ngày: 15/8/2015. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

4.Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

5. Về án phí: Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013142 ngày 14/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận anh T đã nộp xong án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

205
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 26/09/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:54/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hoà Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 26/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về