Bản án 53/2019/HS-ST ngày 18/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 53/2019/HS-ST NGÀY 18/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2019/TLST-HS ngày 27/3/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2019/QĐXXST-HS ngày 04/4/2019 đối với bị cáo:

Lê Thành Đ, giới tính: Nam, sinh năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Phường 03, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lê Văn D và bà Trịnh Thị A; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị bắt và tạm giam ngày 10/10/2018; (Có mặt).

Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan

1/ Ông Phạm Văn Đ, địa chỉ: xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt);

2/ Ông Huỳnh Hữu N, địa chỉ: xã Thường Lạc, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 10.10.2018, tại trước nhà đường Nguyễn Văn Lượng, phường 17, quận Gò Vấp bắt quả tang Lê Thành Đ đang ngồi trên chiếc xe gắn máy do Huỳnh Hữu N chở, cất giữ trái phép 05 viên nén hình tam giác màu xanh có khắc ký hiệu EA7 trong hộp thuốc là 555 và cầm trên tay, nên tiến hành thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại cơ quan điều tra công an quận Gò Vấp, Lê Thành Đ đã nhận tội và khai nhận: khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10.10.2018, Đ đang ở khách sạn Tân Tùng L, đường Bạch Đằng, quận Tân Bình thì nhận được nhắn của N nên Đ rủ N đến khách sạn cùng sử dụng ma túy tổng hợp với Đ. Khoảng 30 phút sau thì N chạy xe gắn máy biển số 85R5-4764 đến khách sạn cùng với Đ sử dụng ma túy Đ có sẵn. Sau khi sử dụng ma túy xong thì Đ gọi điện thoại cho một đối tượng khác tên T (không rõ lai lịch) hỏi mua 05 viên thuốc lắc với giá 1.100.000 đồng, T hẹn gặp Đ tại quán nước bên cạnh quán bar đường Nguyễn Văn Lượng, phường 7, quận Gò Vấp để giao ma túy. Sau đó, Đ kêu N chở Đ về nhà chơi để Đ lấy cho N 01 cái điện thoại di động. N đồng ý và chở Đ về nhà. Sau khi lấy điện thoại cho N thì Đ kêu N chở Đ đến một quán cà phê gần quán bar 162 (nhưng không nói để làm gì). Khi đến nơi Đ và N ngồi một lúc thì có một thanh niên (không rõ lai lịch) nói là người của T đưa cho Đ 01 gói thuốc lá 555, bên trong có 05 viên thuốc lắc hình tam giác màu xanh và Đ đưa cho đối tượng này 1.100.000 đồng. Đ đưa cho N gói thuốc lá 555 có chứa 05 viên thuốc lắc để N giữ nhưng không nói cho N biết bên trong gói thuốc lá là ma túy, sau đó Đ lấy lại và cầm trên tay trái rồi lên xe ngồi phía sau cho N chở đi. Khi đến trước nhà đường Nguyễn Văn Lượng, phường 17, quận Gò Vấp thì bị công an quận Gò

Vấp bắt giữ như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 05 (năm) viên nén hình tam giác màu xanh có khắc ghi ký hiệu EA7 đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thành Đ và hình dấu công an phường 17, quận Gò Vấp. Tại bản kết luận giám định số 1687/KLGĐ-H ngày 18.10.2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP.Hồ Chí Minh kết luận: 05 viên nén hình tam giác màu xanh lá có khắc ký tự “EA7” được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0679g, loại MDMA.

- 01 xe máy biển số 85R5-4764; Số khung VTTWCH022TT-086364; Số máy: VTT1P52FMH-086364. Qua xác minh do anh Phạm Văn Đ đứng tên chủ quyền xe. Tại cơ quan điều tra anh Đ khai chiếc xe máy này mua vào năm 2003 đến năm 2006 anh Đ bán lại cho một người tên H (không rõ lai lịch), không làm thủ tục sang tên. Cơ quan công an đã đăng Công báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ với cơ quan điều tra để giải quyết.

Đối với Huỳnh Hữu N, khi sử dụng xe chở Đ đến điểm hẹn, N không biết Đ mua ma túy, nên không có căn cứ để xác minh N đồng phạm với Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với N.

Đối với đối tượng tên Tài án ma túy cho Đ, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý. Khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng số vật chứng nêu trên theo phiếu nhập kho số 259/PNK ngày 14.11.2018

Tại bản cáo trạng số 63/Ctr-VKS-GV, ngày 25/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Lê Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

- Xử phạt bị cáo Lê Thành Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói thuốc lá hiệu 555 bên trong có 05 (năm) viên nén hình tam giác màu xanh có khắc ghi ký hiệu EA7 đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thành Đ và hình dấu công an phường 17, quận Gò Vấp.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy biển số 85R5-4764; Số khung VTTWCH022TT-086364; Số máy: VTT1P52FMH-086364.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Lê Thành Đ đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Lê Thành Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội.

[4] Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng 2,0679 gram, loại MDMA nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói thuốc lá hiệu 555 bên trong có 05 (năm) viên nén hình tam giác màu xanh có khắc ghi ký hiệu EA7 đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thành Đ và hình dấu công an phường 17, quận Gò Vấp, qua giám định là ma túy, loại MDMA là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe máy biển số 85R5-4764; Số khung VTTWCH022TT-086364; Số máy: VTT1P52FMH-086364 Qua xác minh do anh Phạm Văn Đ đứng tên chủ quyền xe. Tại cơ quan điều tra anh Đ khai chiếc xe máy này mua vào năm 2003 đến năm 2006 anh Đ bán lại cho một người tên H (không rõ lai lịch), không làm thủ tục sang tên. Cơ quan công an đã đăng Công báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ với cơ quan điều tra để giải quyết; Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên có nguồn gốc rõ ràng nhưng việc mua bán không hợp lệ, đối tượng Huỳnh Hữu N không xuất trình được giấy mua bán xe và giấy chứng nhận đăng lý xe nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe trên

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lê Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Lê Thành Đ 01(một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 10/10/2018.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói thuốc lá hiệu 555 bên trong có 05 (năm) viên nén hình tam giác màu xanh có khắc ghi ký hiệu EA7 đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thành Đ và hình dấu công an phường 17, quận Gò Vấp.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy biển số 85R5-4764; Số khung VTTWCH022TT-086364; Số máy: VTT1P52FMH-086364.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 259/PNK ngày 14/11/2018 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nhĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/HS-ST ngày 18/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:53/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về