Bản án 51/2019/HS-ST ngày 26/06/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 51/2019/HS-ST NGÀY 26/06/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2019/HSST-QĐ ngày 05 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Đỗ Văn Đ (tên gọi khác Đỗ Đức Đ), sinh ngày 06 tháng 01 năm 1987 tại thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn 8, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn Đ1 sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị A sinh năm 1966; Chưa có vợ, con; Tiền án: Bản án số 93/2016/HSST ngày 26/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội Đánh bạc; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/11/2018; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 25/9/2018 tại nơi ở của Bùi Thị B, sinh năm 1974 ở thôn 8, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng có một số đối tượng ở hai chiếu bạc đang thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn” được thua bằng tiền. Chiếu bạc thứ nhất gồm các đối tượng: Đỗ Văn Đ, Bùi Thị B, Nguyễn Hồng Đ2, sinh năm 1971; Nguyễn Văn N2, sinh năm 1983; Đỗ Văn C2 sinh năm 1970, đều trú tại thôn 8, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chiếu bạc thứ hai gồm các đối tượng: Nguyễn Đức L3, sinh năm 1984; Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989; Nguyễn Văn C3, sinh năm 1985; Nguyễn Mạnh V3, sinh ngày 23/01/2001; Nguyễn Văn H3, sinh năm 1982, đều trú tại xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Văn Đ khai: Khoảng 21 giờ ngày 25/9/2018, Đ đến nhà B chơi thì Đ thấy các đối tượng ở chiếu bạc thứ hai đang chơi đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn” được thua bằng tiền. Lúc này, có các đối tượng C2, T3, C3 đang ngồi xem. Một lúc sau, Đ3, N3, C đến. Cả nhóm rủ nhau chơi bạc, nhờ B chia bài, mỗi người chơi trả công cho B 20.000đồng/giờ. Cả nhóm thỏa thuận cách thức chơi bạc và tỷ lệ cá cược như sau: B và V mỗi người sử dụng 02 bộ bài chắn (mỗi bộ 100 lá) có sẵn ở nhà mình để chia giúp các đối tượng khác luân phiên chơi bạc. Mỗi bộ bài chắn thành 04 phần, phần bài của người cầm cái là 20 lá, ba phần còn lại của ba người chơi khác mỗi phần 19 lá, số bài còn lại được gọi là “bài lọc”, những người chơi lần lượt lấy bài cho đến khi hết bài để xác định thắng, thua, “chắn” (tức là hai lá bài giống nhau); “cạ” (tức là hai lá bài cùng hàng nhị, tam, tứ... nhưng khác chất); sách, vạn, văn, bài ù (tức là bài có đủ ít nhất 06 “chắn”, 04 “cạ”). Người thắng cuộc “xuông” (tức là bài có 06 chắn, bài chẵn, không có cây lẻ và không có cước sắc) thì người thua phải trả 20.000đồng/người. Người thắng cuộc “dịch” (tức có bài ù và có 01 cước sắc) thì người thua phải trả 10.000 đồng/người. Người thắng cuộc “xì xuông” (tức là trên bài không có cước sắc gì), cước ù “tôm” (tức là trên bài có lá thất văn, tam vạn, tam sách) thì người thua phải trả 30.000 đồng/người. Người thắng cuộc “cước có lèo” (tức là trên bài ù có lá bát sách, cửu vạn, chi chi tương ứng) thì người thua phải trả 40.000 đồng/người. Người thắng cuộc “cước tám đỏ” là trên bài ù có 08 lá bài màu đỏ còn lại là màu đen), “cước bạch định” (tức là trên bài có toàn bộ cây bài đen), “cước bạch thủ ù chi” là trên bài ù đã có 05 “chắn”, 04 “cạ” và chờ “chi” thì người thua phải trả 100.000 đồng/người. Người thắng cuộc “cước ù 10 chắn” (tức là bài ù có đủ 10 “chắn” là 20 lá bài), “cước kích tứ chi” (tức là trên bài ù có 04 lá bài chi chi còn lại tất cả là màu đen) thì người thua phải trả 200.000 đồng/người.

Khi tham gia đánh bạc, Đỗ Văn Đ mang theo số tiền 1.500.000 đồng, thắng bạc. Khi bị công an bắt giữ thu tại vị trí Đ ngồi số tiền 3.110.000 đồng (ba triệu một trăm mười ngàn đồng), về nhân thân, năm 2016 Đ có tiền án về tội Đánh bạc (chưa được xóa án tích).

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng Nguyễn Hồng Đ2, Nguyễn Văn N2, Đỗ Văn C2, Bùi Thị B khai nhận phù hợp với lời khai của Đỗ Văn Đ như nội dung nêu trên. Nguyễn Hồng Đ2 mang theo số tiền 1.080.000 đồng để đánh bạc, thua bạc. Khi bị công an bắt giữ thu tại vị trí Đ2 ngồi 80.000 đồng (tám mươi ngàn đồng); Nguyễn Văn N2 mang theo số tiền 660.000 đồng, thua bạc. Khi bị công an bắt thu tại vị trí Nghiệm ngồi 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng); Đỗ Văn C2 mang theo số tiền 900.000 đồng, thua bạc. Khi bị bắt giữ thu tại vị trí ngồi của C2 820.000 đồng (tám trăm hai mươi ngàn đồng). Thu tại vị trí Bùi Thị B ngồi số tiền 80.000 đồng (tám mươi ngàn đồng) là tiền công chia bài mọi người trả cho B. Số tiền này B dùng mua đồ ăn cho những người chơi bạc tại chiếu bạc thứ nhất. Việc các đối tượng chơi bài tại nhà B là tự phát, không ai hỏi B mượn địa điểm chơi bạc. Nhóm của V3, L3, T3, C3, H3 chơi bạc trước, nhóm Đ, Đ2, N2, C2, B chơi sau. Tổng số tiền Đ, Đ2, N2, C2, B dùng đánh bạc tại chiếu bạc thứ nhất là 4.140.000 đồng (= 3.110.000 đồng + 80.000 đồng + 50.000 đồng + 820.000 đồng + 80.000 đồng).

Các đối tượng Nguyễn Mạnh V3, Nguyễn Đức L3, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn C3, Nguyễn Văn H3 khai: cùng cách thức đánh bạc như trên, các đối tượng này cũng tham gia chơi đánh bạc dưới hình thức đánh chắn, được thua bằng tiền. Việc các đối tượng này chơi bạc độc lập với nhóm của Đỗ Đức Đ. Trong đó, các đối tượng L2, T2, C2, H2 là người trực tiếp chơi bạc, còn V2 là người giúp sức chia bài. Khi tham gia đánh bạc, Nguyễn Đức L3 mang theo số tiền 650.000 đồng để đánh bạc, thắng bạc. Khi bị công an bắt thu tại vị trí L2 ngồi 1.010.000 đồng (một triệu không trăm mười ngàn đồng); Nguyễn Văn T3 mang theo 800.000 đồng để đánh bạc, thua bạc. Khi công an bắt, thu tại vị trí T3 ngồi 410.000 đồng (bốn trăm mười ngàn đồng); Nguyễn Văn H3 mang theo số tiền 750.000 đồng để đánh bạc, thua bạc. Khi bị công an bắt thu tại vị trí H2 ngồi 270.000 đồng (Hai trăm bảy mươi ngàn đồng); Nguyễn Văn C3 mang theo số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, thắng bạc. Khi bị công an bắt thu tại vị trí C3 ngồi 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng). Thu tại vị trí Nguyễn Mạnh V3 ngồi số tiền 160.000 đồng (một trăm sáu mươi ngàn đồng) là tiền công chia bài mọi người trả cho V3. Số tiền này V3 dùng mua đồ ăn cho những người chơi bạc tại chiếu bạc thứ hai. Tổng số tiền L3, T3, H3, C3, V3 dùng đánh bạc tại chiếu bạc thứ hai là 3.200.000 đồng (= 1.010.000 đồng + 410.000 đồng + 270.000 đồng + 1.350.000 đồng + 160.000 đồng).

Hai chiếu bạc trên diễn ra đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng như nội dung nêu trên.

- Vật chứng của vụ án: số tiền 7.340.000 đồng (Bảy triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng); 04 bộ bài chắn, 02 chiếc chiếu cói, 04 đĩa sứ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên.

Cáo trạng số 37/CT-VKSTN ngày 10 tháng 4 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Đỗ Văn Đ về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo nhưng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 56, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội Đánh bạc, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình chung. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Về tố tụng:

[1]. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau: Bị cáo Đỗ Văn Đ từ khoảng 21 giờ đến 22 giờ ngày 25/9/2018 đã có hành vi đánh bài được thua bằng tiền với tổng số tiền 4.140.000 đồng, đã bị kết án về tội này tại Bản án số 93/2016/HSST ngày 26/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhưng chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 37/CT-VKSTN ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo như đã nêu trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

[3] Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu vì đã có lần bị Tòa án kết án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú và có thời gian tham gia quân đội là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[4] Với phân tích trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo. Áp dụng khoản 2 Điều 56 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt Bản án số 93/2016/HSST ngày 26/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội Đánh bạc buộc bị cáo phải chấp hành hình chung, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2016 đến ngày 22/6/2016.

- Về những vấn đề khác:

[5] Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy hủy 04 bộ bài chắn, 02 chiếc chiếu cói, 04 đĩa sứ. Tịch thu vào ngân sách nhà nước số tiền 7.340.000 đồng.

[6] Trong vụ án này: Các đối tượng Bùi Thị B, Nguyễn Mạnh V3 là những người có hành vi dùng nơi ở của mình, cung cấp các công cụ cho 08 (tám) đối tượng khác đánh bạc, giúp sức cho các đối tượng khác đánh bạc bằng cách chia bài để hưởng tiền công, số tiền công chia bài B, V3 dùng để chi tiêu cho các đối tượng đánh bạc ăn uống. Ngoài ra, còn các đối tượng Nguyễn Đức L3, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn C3, Đỗ Văn C2, Nguyễn Văn N2, Nguyễn Hồng Đ2 là những người có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn” được thua bằng tiền. Tuy nhiên, do số lượng tiền các đối tượng dùng để đánh bạc tại hai chiếu bạc đều có giá trị dưới mức định khung cơ bản (dưới 5.000.000 đồng) của tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, các đối tượng Nguyễn Đức L3, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn C3, Đỗ Văn C2, Nguyễn Văn N2, Nguyễn Hồng Đ2, Bùi Thị B, Nguyễn Mạnh V3 chưa có tiền án, tiền sự về các tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, Gá bạc nên Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi Đánh bạc.

[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Văn Đ (tên gọi khác Đỗ Đức Đ) 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bị cáo Đỗ Văn Đ là 15 tháng tù của Bản án số 93/2016/HSST ngày 26/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo Đỗ Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung là 24 (hai mươi bốn) tháng tù, được trừ 03 (ba) tháng 12 (mười hai) ngày bị tạm giữ, tạm giam. Bị cáo Đỗ Văn Đ còn phải chấp hành hình phạt là 20 (hai mươi) tháng 18 (mười tám) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy hủy 04 bộ bài chắn, 02 chiếc chiếu cói, 04 đĩa sứ. Tịch thu vào ngân sách nhà nước số tiền 7.340.000 đồng. (Theo Biên lai thu tiền số 0000798 và Biên bản giao nhận vật chứng cùng ngày 05/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

Về án phí áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đỗ Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2019/HS-ST ngày 26/06/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:51/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về