Bản án 51/2019/HS-ST ngày 17/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 51/2019/HS-ST NGÀY 17/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2019/TLST-HS ngày 10/04/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐXXST-HS ngày 03/5/2019 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thị O, sinh năm 1970, tại NĐ; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: tổ 1, thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Đ,Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Xuân K (đã chết) và con bà: Trần Thị H; chồng: Trần Văn T(đã ly hôn), con: có 03 con, con lớn sinh năm 1992 (chết), con nhỏ: sinh năm 2015; Tiền án: Ngày 20/01/2016 Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đang được hoãn thi hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Tiền sự: chưa có. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/01/2019 tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.

2. Người bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1993

Địa chỉ: số nhà 95, đường Đ, phường Đ, thành phố N, tỉnh N vắng mặt.

3. Người làm chứng:

- Chị Ninh Thị T sinh năm 1992. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu sài cá nhân, sáng ngày 13/6/2018 Trần Thị O điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29Y4-1019 đi từ nhà ở thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Đ sang thành phố N, tỉnh N mục đích trộm cắp tài sản. Khoảng 07 giờ 30 phút, Trần Thị O đến cửa hàng quần áo tại số nhà 95, đường Đ, phường Đ, thành phố N của chị Nguyễn Thị N, lúc này tại quán có chị Nguyễn Thị N và chị Ninh Thị T là nhân viên bán hàng. Sau khi O quan sát thấy chị N đang ngồi trên nền nhà kiểm hàng còn chị Ninh Thị T đang đứng xếp hàng trên kệ. Tại cửa hàng O phát hiện trên mặt quầy thu ngân có 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F7 Siler của chị N để ở đây. O nhờ chị T chọn cho một chiếc váy xòe và mang vào phòng thử đồ sát quầy thu ngân để mặc thử sau đó quay ra bảo chị T chọn hộ cho bộ khác. Thấy chị N và chị T không để ý, O đứng sát quầy thu ngân tay trái cầm chiếc váy đưa ra phía trước che tầm nhìn của chị N và chị T, còn tay phải lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F7 Siler của chị N, O cất vào cạp quần sau đó kéo áo chống nắng đang mặc che lại. Sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại, O trả váy cho chị T không mua nữa ra lấy xe mô tô đi về. Khi về đến khu vực thị trấn G, huyện V, tỉnh Đ, O vào quán nước ven đường uống nước và bán điện thoại vừa lấy trộm được cho một người đàn ông không quen biết được 900.000 đồng, O tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất chiếc điện thoại chị cùng chị T đã xem lại camera an ninh của cửa hàng xác định có 01 phụ nữ điều khiển xe mô tô màu xanh vào chọn mua váy đã lấy trộm. Do đầu ghi bị hỏng nên chị N đã dùng điện thoại chụp lại hình ảnh của đối tượng. Đến chiều ngày 24/11/2018, O điều khiển xe mô tô màu xanh biển kiểm soát 29Y4-1019 quay lại cửa hàng quần áo gần cửa hàng của chị N để xem quần áo. Khi O đi vào cửa hàng thì chị N thấy O có đặc điểm giống với người phụ nữ đã lấy trộm chiếc điện thoại của mình vào ngày 13/6/2018 nên đã trình báo Công an phường Đ, thành phố N. Tại Công an phường Đ, Trần Thị O xin đầu thú và khai nhận là người đã lấy trộm chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F7 Siler của chị N vào ngày 13/6/2018.

Tại bản Kết luận định giá số 85/KL-HĐ ngày 27/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố N kết luận chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 Siler có trị giá 6.200.000đồng.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 10/04/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Trần Thị O về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 Siler quá trình điều tra O khai nhận đã bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 900.000 đồng nên không thu giữ được. Ngày 28/12/2018, bị cáo O đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị N số tiền 4.000.000 đồng, chị N đã nhận số tiền 4.000.000 đồng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nốt số tiền còn lại theo kết luận định giá, không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị O.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ 1 xe mô tô màu xanh biển kiểm soát 29Y4 - 1019, quá trình điều tra xác định là xe của chị Trần Thanh D sinh năm 1995, trú tại phòng 33 - A11 khu tập thể V, phường V, quận Đ, thành phố H là con của Trần Thị O. Chị D mua lại chiếc xe trên của chị Phùng Thị C sinh năm 1974, trú tại khu tập thể cao su Sao Vàng, phường T, quận T, thành phố H nhưng không làm giấy tờ mua bán, đăng ký xe chị D đã làm mất. Do O không có phương tiện đi lại nên chị D đã cho mượn chiếc xe trên. Việc O sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản chị D không biết nên không vi phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô màu xanh biển kiểm soát 29Y4-1019 để xác minh, xử lý sau.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị O đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Trần Thị O phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, điểm s, khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị O từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù giam của bản án hình sự sơ thẩm số 12/2016/HSST ngày 20/01/2016 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H, buộc bị cáo Trần Thị O phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2019.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị O không có ý kiến gì với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N; đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên toà bị cáo Trần Thị O thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐ ngày 27/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố N và những tài liêu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13/6/2018, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị Nguyễn Thị N, Trần Thị O đã lén lút lấy trộm của chị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 Siler có trị giá 6.200.000 đồng, từ hành vi trên của bị cáo Trần Thị O đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, tài sản này được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ, hành vi bị cáo hực hiện đủ để giáo dục cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Tại bản án số 12/2016/HSST ngày 20/01/2016 Tòa án nhân dân Quận Đ, thành phố H xử phạt Trần Thị O 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đang được hoãn thi hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này, tổng hợp với bản án trước theo Điều 56 Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến việc trong quá trình điều tra bị cáo đã đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của người bị hại đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản , chưa chấp hành hình phạt, nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “ tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

 [3] Các vấn đề khác:

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 Siler quá trình điều tra bị cáo O khai nhận đã bán cho một người đàn ông không quen biết tại quán nước thuộc thị trấn G, huyện V, tỉnh Đ, bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ và thu lại điện thoại.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thị N đã nhận số tiền bồi thường là 4.000.000đ của bị cáo O, chị N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không có ý kiến gì khác, do đó HĐXX không đặt ra xem xét.

Đối với xe mô tô màu xanh biển kiểm soát 29Y4-1019, quá trình điều tra xác định là xe của chị Trần Thanh D là con gái của bị cáo O. Chị D mua lại chiếc xe trên của chị Phùng Thị C khi mua hai bên không làm giấy tờ mua bán, quá trình sử dụng xe chị D đã làm mất đăng ký xe. Do bị cáo O không có phương tiện đi lại nên chị D đã cho bị cáo O mượn chiếc xe trên. Việc bị cáo O sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản chị D không biết nên không vi phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô màu xanh biển kiểm soát 29Y4 - 1019 để xác minh, xử lý sau là đúng theo quy định pháp luật nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị O phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị O 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù giam của bản án hình sự sơ thẩm số 12/2016/ HSST ngày 20/01/2016 của Tòa án nhân dân Quận Đ, thành phố H. Buộc bị cáo O phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2019.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thị O phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quĩ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2019/HS-ST ngày 17/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:51/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về