Bản án 50/2020/HS-PT ngày 05/05/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 50/2020/HS-PT NGÀY 05/05/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong các ngày 04, 05 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2020/TLPT-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Vũ H do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2019/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyn Vũ H, sinh 1981; Nơi cư trú: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tân T1 và bà Đặng Thị Thu H; Vợ là Nguyễn Thị Hoàng P, có 02 con: đứa lớn sinh 2007, đứa nhỏ sinh 2011; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hữu T – Văn phòng luật sư Nguyễn Hữu T, thuộc đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang.

- Bị hại có kháng cáo:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1970; Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm: 1972;

Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị Thu H, sinh năm: 1964, (có mặt).

2. Ông Nguyễn Tân T1, sinh năm: 1962, (có mặt).

3. Anh Nguyễn Tấn L, sinh năm: 1992, (có mặt).

Cùng cư trú tại: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Lê Thành Đ – Chi nhánh văn phòng luật sư B, thuộc đoàn luật sư thành phố Cần Thơ.

Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Tân T1 cùng trú tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang có mâu thuẫn với nhau từ trước. Bị cáo Nguyễn Vũ H là con ruột ông T1 nghe có người nói lại ông T đòi chém cha mình nên có ý định tìm ông T để hỏi chuyện. Khoảng 9 giờ ngày 14/9/2018, bị cáo rủ Nguyễn Tấn L (em ruột của bị cáo) chở đi tìm ông T để hỏi chuyện. Trước khi đi, bị cáo chuẩn bị một con dao dài 33 cm, lưỡi dao bằng kim loại bề rộng 04 cm, có đầu nhọn một cạnh sắc bén, cán dao bằng nhựa rồi giấu trong tay áo bên phải của bị cáo đang mặc nhưng không cho anh L biết. Khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, anh L điều khiển xe mô tô biển số 63B1-652.62 chở bị cáo đi tìm ông T nhưng không gặp, đến khoảng 09 giờ 50 phút, trên đường đi về đến trước vựa gạo “Kim Yến” ở ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo nhìn thấy ông T đang đi bộ nên kêu anh L dừng xe lại để bị cáo nói chuyện với ông T. Trong lúc nói chuyện thì giữa bị cáo và ông T xảy ra cự cãi. Bị cáo lấy con dao trong tay áo ra chém một cái trúng vào lưng và chém T hai cái trúng vào vai trái ông T gây thương tích, ông T bỏ chạy thì bị té ngã xuống đường, bị cáo T tục dùng dao đâm trúng một cái vào đùi phải ông T gây thương tích. Sau đó, ông T bỏ chạy vào quán cà phê không biển hiệu của bà Võ Kim L cách đó khoảng 20m để trốn, còn bị cáo và L đi về nhà. Lúc này, ông Nguyễn Tân T1 đang ngồi uống nước ở quán cà phê không biển hiệu cách đó khoảng 150m nghe được sự việc nên chạy đến quán cà phê của bà L, nhìn thấy ông T bị thương nặng nên kêu anh Phạm Công D đưa ông T đi đến Bệnh viện đa khoa Xuyên Á Vĩnh Long để điều trị.

Theo bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 358/2018/TgT ngày 16/10/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Tiền Giang xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn T là 10%. Thương tích do vật sắc gây nên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 85/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án Nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ H 01(một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử L vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/12/2019, bị cáo Nguyễn Vũ H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 06/12/2019, bị hại Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với L do còn bỏ lọt tội phạm đối với ông Nguyễn Tấn T1, Nguyễn Tấn L; Tăng mức hình phạt của bị cáo lên khoản 2 Điều 134 Bô luật hình sự; Tăng mức bồi thường thêm 74.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo, bị hại T tục giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đã nêu trong đơn.

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa cho rằng đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết. Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo H cùng với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Về bỏ lọt tội phạm, đồng phạm là trường hợp phạm tội có từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hồ sơ thể hiện giữa bị cáo với anh L và ông T1 không hề có sự bàn bạc khi đi chém ông T nên kháng cáo cho rằng bị lọt tội phạm là không có cơ sở. Về trách nhiệm dân sự người bị hại không cung cấp thêm tình tiết mới nào để xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, bị hại giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng: quá trình điều tra không thu thập được hung khí do bị mất, nhưng bị cáo đã tích cực cung cấp con dao cùng loại giúp cơ quan điều tra kết thúc được vụ án là thuộc tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Tại cơ quan điều tra bị hại xác định có tuyên bố gặp cha bị cáo đâu chém đó, nên việc bị cáo gây thương tích cho bị hại không thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ. Từ khi phạm tội và được tại ngoại cho đến nay, bị cáo chấp hành tốt pháp luật; không có tình tiết tăng nặng lại có nơi cư trú rõ ràng. Tuy bị cáo đã từng bị xét xử nhưng đến nay đã được xóa án tích và theo qui định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại cơ quan điều tra mức bồi thường là do phía bị hại yêu cầu và được phía bị cáo đồng ý Hội đồng xét xử ghi nhận. Đến nay bị hại không cung cấp gì mới nên không có cơ sở xem xét nên đề nghị bác.

-Ý kiến luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại cho rằng: bị hại xác định bị cáo dùng loại dao tự chế (mã tấu) gây án, trong khi con dao bị cáo giao nộp thuộc loại dao thái lan không phải là vật chứng của vụ án. Con dao này lại mâu thuẩn với vết thương trên người bị hại nên việc kết luận con dao gây án là loại dao thái lan là không có cơ sở ảnh hưởng đến xác định tính chất mức độ gây án của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo là có tính chất côn đồ bỡi lẽ bị cáo có sự tính toán chuẩn bị trước hung khí, khi thực hiện hành vi rất quyết liệt chém bị hại đến 4 nhát nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết tăng nặng này. Tại phiên tòa L thừa nhận có thấy bị cáo dùng dao gây thương tích cho bị hại nhưng vẫn không có biểu hiện can ngăn là đồng tình với bị cáo; lời khai các nhân chứng Hà, Danh khai có thấy L cầm dao đuổi theo bị hại nên cấp sơ thẩm còn bỏ lọt tội phạm đối với L. Về trách nhiệm dân sự phía bị hại không có đơn yêu cầu cụ thể, chỉ yêu cầu giải quyết theo qui định pháp luật trong đó có bao gồm yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần nhưng chưa được xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tăng mức bồi thường về trách nhiệm dân sự. Bị hại có biệt danh T khùng thể hiện năng lực có hạn chế nhưng không có người đại diện ngay từ đầu dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chưa được bảo đảm. Đề nghị hủy án giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

*Xét kháng cáo còn bỏ lọt tội phạm:

[1] Tại biên bản ghi nhận về việc cố ý gây thương tích của công an xã H (bl 02) chị Loan (người chứng kiến) khai nhận khi nghe la trước nhà chị chạy ra thấy anh T1 đang cầm máu cho anh T. Tại biên bản lời khai ngày 09/5/2019 chị Phan Ngọc Thúy khai nhận vào lúc xảy ra sự việc anh H rượt chém anh T, thì chị đang ngồi uống cà phê trong quán của chị Ánh cùng với Giàu và ông T1 (bl 109); Tại biên bản phiên tòa, chính anh T khai nhận thương tích của anh do H và L gây ra (bl 281); anh T khai bị ông T1 ném ly vào mặt gây thương tích nhưng giấy chứng nhận thương tích không có thể hiện vết thương này. Từ các căn cứ trên, xác định không có cơ sở kết luận ông T1 là đồng phạm.

[2] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, anh T nhiều lần khẳng định, khi anh bỏ chạy vào nhà chị Loan thì anh L đuổi theo bắt anh phải quỳ lạy xin lỗi sau đó đâm vào vùng đùi của anh. Lời khai này là mâu thuẩn với lời khai chị Loan (là chủ nhà) khi nghe la chạy ra coi thì thấy anh T1 đang cầm máu cho anh T, còn anh H, anh L đứng bên kia đường nhìn qua. Như vậy việc anh T khai anh L bắt anh quỳ sau đó đâm là không có cơ sở vì sự việc như vậy phải xảy ra trong thời gian đủ dài để chị Loan chắc chắn phải biết nội dung này, nhưng lời khai chị Loan chỉ thấy anh T1 đang cầm máu cho anh T. Mặt khác anh T còn cho rằng anh L dùng dao bấm đâm anh, nhưng vết thương ở đùi anh T không phù hợp với hung khí là con dao bấm quá nhỏ so với vết thương ở đùi anh T thể hiện trên bản ảnh; Việc luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại viện dẫn lời khai chị H, anh D là có thấy anh L đuổi theo anh T để cho rằng anh L là đồng phạm là chưa có cơ sở vững chắc, bởi lẽ lời khai của chính chị H và anh D là mâu thuẩn nhau, cụ thể: chị H thấy L cầm dao đuổi theo..., trong khi anh D khai chỉ thấy bị cáo H cầm dao; Anh T khai L sử dụng dao bấm nhưng chị Hà ở cách xa mà vẫn nhìn thấy L cầm dao là không đáng tin. Đặc biệt cả hai chỉ khai có thấy L đuổi theo nhưng đều xác định không biết ai là người trực T gây thương tích cho anh T nên không thể lấy 02 lời khai này làm căn cứ kết tội anh L. Hồ sơ cũng không hề có chứng cứ tài liệu nào thể hiện anh L và bị cáo có bàn bạc việc đi gây thương tích cho anh T nên cũng không thể lấy tình tiết anh L không can ngăn người khác phạm tội để kết luận anh là đồng phạm được. Từ phân tích trên xác định chưa đủ cơ sở kết luận anh L là đồng phạm.

Từ [1] và [2] xác định kháng cáo của Nguyễn Văn T cho rằng bỏ lọt tội đối với ông Nguyễn Tân T1, Nguyễn Tấn L là không có cơ sở nên bác.

*Xét kháng cáo yêu cầu xét xử tăng nặng bị cáo ở khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự:

[3] Tại phiên tòa bị hại cho rằng không có đe dọa chém ông T1. Nhưng hồ sơ thể hiện rõ bị hại nhiều lần đe dọa gặp ông T1 ở đâu chém đó. Quan hệ giữa bị cáo và ông T1 lại là cha con nên việc bị cáo bức xúc với bị hại là có thể thấu hiểu. Vì nguyên nhân đó mà bị cáo hành xử chém anh T là quá đáng trái pháp luật nhưng chưa đến mức cho rằng hành vi trên là côn đồ. Mặt khác, cho dù bị cáo có tính chất côn đồ đi nữa nhưng với tỷ lệ thương tật chỉ 10% thì bị cáo vẫn bị xử L ở khoản 1 mà không thể xét xử ở khoản 2 được, nên kháng cáo yêu cầu xét xử bị cáo ở khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là không có cơ sở nên bác.

[4] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Vũ H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu, lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Khoảng 9 giờ 50 ngày 14/9/2018, bị cáo mang theo dao nhờ Nguyễn Tấn L (em ruột của bị cáo) chở đi tìm anh T để hỏi chuyện, nhưng khi tìm gặp bị hại bỏ chạy thì bị cáo đã dùng dao chém một cái trúng vào lưng và chém T hai cái trúng vào vai trái anh T gây thương tích, anh T bỏ chạy vào nhà chị L thì bị té ngã, bị cáo T tục dùng dao đâm trúng một cái vào đùi phải anh T. Theo bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 358/2018/TgT ngày 16/10/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Tiền Giang xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn T là 10%. Thương tích do vật sắc gây nên. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến thân thể sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi này còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật tự an toàn xã hội. Chỉ vì nghe anh T mâu thuẩn với cha và đe dọa sẽ chém mà bị cáo đã sử dụng dao là hung khí cực kỳ nguy hiểm gây thương tích cho anh T cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo là rất cao. Bị cáo đã từng có đến hai lần bị tòa án đưa ra xét xử, đến nay mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo đã có đến 02 lần bị xét xử mà không biết hối cải là có nhân thân xấu nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo nghị quyết 02 của Hội đồng Thẩm phán nên bác yêu cầu xin hưởng án treo của bị cáo.

[6] Về mức án khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như về nhân thân xử phạt bị cáo mức án như trên là phù hợp. Sau khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã tự nguyện đem nộp tiền thi hành phần trách nhiệm dân sự còn lại nên chấp nhận xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự, mức bồi thường dân sự tại cấp sơ thẩm là do chính bị hại đưa ra và được bị cáo chấp nhận. Nay bị hại lại yêu cầu tăng mức bồi thường nhưng không đưa ra được chứng cứ, tình tiết mới nào để xem xét. Yêu cầu mới lại chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm nên yêu cầu kháng cáo về trách nhiệm dân sự của bị hại là không có cơ sở nên bác.

[8] Về ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng việc bị cáo nộp con dao cùng loại với con dao gây án là tích cực giúp Cơ quan điều tra sớm kết thúc vụ án là chưa chính xác, bởi lẽ hành vi phạm tội của bị cáo là công khai đã bị phát hiện ngay sau đó. Lời khai bị cáo phù hợp lời khai những người làm chứng, phù hợp giấy y chứng và kết luận giám định là do vật sắc nhọn gây ra nên cũng đã đủ căn cứ kết tội. Việc có nộp con dao trên hay không, không làm ảnh hưởng đến việc điều tra kết tội bị cáo.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đã có cân nhắc xem xét khi nghị án.

Bởi các lẽ trên, Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vũ H; Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm số 85/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ H 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành án được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo tự nguyện nộp 3.129.975 đồng theo biên lai số 003899 ngày 05/5/2020 của Chi cục thi hành án huyện C, tỉnh Tiền Giang. Ông Nguyễn Văn T được nhận lại số tiền này ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

3. Án phí: bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của Quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2020/HS-PT ngày 05/05/2020 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:50/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/05/2020
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về