Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 14/11/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con 

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S - TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 49/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON 

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2019/TLST-HNGĐ ngày 03/9/2019 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trần Ngọc Q, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Chổ ở hiện nay: 36/27/11, đường B, Khu phố B, phường A, Quận B, Thành phố H.(có mặt).

- Bị đơn: Ông Tạ Phúc C, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Số 122/25, đường Đ, khóm M, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 15/8/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Q và ông Tạ Phúc C chung sống với nhau vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 08/03/2005. Hôn nhân của bà Q và ông C được xây dựng trên cơ sở tự nguyên, không ai ép buộc. Trong thời gian đầu bà Qvà ông C chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2006 thì vợ chồng phát sinh nhiều mẫu thuẫn, nguyên nhân dân do bất đồng về quan điểm sống và có vài lần ông C đánh bà Q. Từ đó dẫn đến bà Q và ông C thường xuyên cãi vã. Mặc dù, khi xảy ra mâu thuẫn thì được gia đình bà Q và ông C nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đều không được. Đến tháng 4 năm 2017 bà Q và ông C đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng. Bà Q và ông C đã sống ly thân từ thời gian đó đến nay.

Nay bà Q nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Q và ông C không hàn gắn được nên bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tạ Phúc C.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Q và ông Tạ Phúc C có một người con chung tên Tạ Như Y, sinh ngày 04/9/2006, hiện nay cháu Y đang sống chung với bà Q. Sau khi ly hôn, bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tạ Như Y cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông C cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Trần Ngọc Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại tờ tường trình lập ngày 19/9/2019 cháu Tạ Như Y trình bày: Sau khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Nguyễn Trần Ngọc Q vì mẹ thường chăm sóc, đưa đón cháu đi học, còn cha thì không quan tâm đến cháu.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật:

Bà Nguyễn Trần Ngọc Q khởi kiện ông Tạ Phúc C về tranh chấp ly hôn, nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông C có nơi cư trú tại số 122/25, đường Đồng Khởi, khóm 1, phường 4, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn Tạ Phúc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trần Ngọc Q và ông Tạ Phúc C xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống theo bà Q trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm và vài lần ông C đánh bà Q. Mặc dù, Tòa án ra thông báo về phiên hòa giải cho vợ chồng trở về đoàn tụ hai lần nhưng ông C vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên Tòa hôm nay bà Qvẫn cương quyết xin ly hôn với ông C. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa bà Q và ông C đã đến mức trầm trọng, ông bà đã sống ly thân tháng 4 năm 2017 đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Q cho bà được ly hôn với ông Tạ Phúc C.

[3] Về con chung: Bà Q trình bày bà Q và ông C có một người con chung tên Tạ Như Y, sinh ngày 04/9/2006, hiện nay cháu Y đang sống với bà Q tại số 36/27/11, đường B, khu phố B, phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Tại tờ tường trình lập ngày 19 tháng 9 năm 2019 cháu Y trình bày sau khi cha mẹ ly hôn cháu Y có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Nguyễn Trần Ngọc Q. Hội đồng xét xử thấy rằng sau khi ông C và bà Q sống ly thân thì cháu Y sống với bà Q, khi sống với bà Q thì cháu Y được đi học và về tâm sinh lý cháu vẫn phát triển bình thường. Do đó, để nhằm ổn định cuộc sống của cháu Y nên việc giao cháu Y cho bà Qtrực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Tạ Như Y cho bà Qtrực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Tạ Phúc C không cấp dưỡng nuôi cháu Tạ Như Y.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q và ông C trình bày không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí:

Bà Nguyễn Trần Ngọc Q phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ theo điểm a khoản 5 Điêu 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lê phi Toa an.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điêu 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí , lê phi Toà án.

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Trần Ngọc Q được ly hôn ông Tạ Phúc C.

2/. Về con chung: Giao cháu Tạ Như Y, sinh ngày 04/9/2006 cho bà Nguyễn Trần Ngọc Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Tạ Phúc C không cấp dưỡng nuôi cháu Tạ Như Y.

Ông Tạ Phúc C có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu Tạ Như Y, sinh ngày 04/9/2006 mà không ai được cản trở.

3/. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Trần Ngọc Q trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4/. Về nợ chung: Bà Nguyễn Trần Ngọc Q trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5/. Về án phí: Bà Nguyễn Trần Ngọc Q phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Qđã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0007800 ngày 15/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

188
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 14/11/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con 

Số hiệu:49/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 14/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về