Bản án 47/2020/HS-PT ngày 03/06/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 47/2020/HS-PT NGÀY 03/06/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 03 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 47/2020/TLPT-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Lê Thị T. Do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2020/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Lê Thị T, sinh năm 1972; tên gọi khác: Hiền; Thường trú: Khóm 1, phương 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Khóm 4, phương Tân Xuyên , thành phố Cà Mau , tỉnh Cà Mau ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Cán (chết) và bà Nguyễn Kim Tuyến; Chồng: Nguyễn Tuấn Anh; Con: 03 người (lớn nhất 27 tuổi, nhỏ nhất 10 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không; Ngày 04/5/2020 bị cáo chấp hành bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2020/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lâm Thị Quỳnh N, sinh năm 1974 (có mặt).

Trú tại: Số 115, đường Trần Quang Khải, khóm 5, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt sau: Khoảng 19 giờ ngày 29/9/2019, Lâm Thị Quỳnh N đến nhà của Lê Thị T tại khóm 4, phương Tân Xuyên, thành phố Cà Mau để đòi tiền. vào nhà T nói chuyện và đòi nợ. Nh và T cự cãi và dùng tay đánh nhau. Nh dùng tay nắm tóc T, T dùng tay trái nắm sợi dây chuyền đeo trên cổ Nh siết lại, tay phải của T cào vào mặt và tay phải của N gây thương tích thì Lê Thị Ngọc Thương (con dâu của T) can ngăn. N được đưa đi Bệnh viện điều trị đến ngày 03/10/2019 ra viện. Sau đó Lâm Kim Thoa (chị ruột N) đến Công an phường Tân Xuyên trình báo sự việc. Quá trình điều tra Lê Thị T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 282 ngày 04/11/2019 của Trung tâm pháp y xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế là 12,6%, làm tròn 13%.

Về dân sự, Lâm Thị Quỳnh N yêu cầu T phải bồi thường 15.393.000 đồng, bao gồm: Chi phí điều trị tại bệnh viện có hóa đơn 2.061.000 đồng, phí ra viện có hóa đơn 250.000 đồng, phiếu chụp pháp y có hóa đơn 1.000.000 đồng; chi phí không có hóa đơn gồm: Toa thuốc 432.000 đồng, chi phí săn sóc da 8.000.000 đồng, thuốc bôi da 1.300.000 đồng, kem chống nắng 1.300.000 đồng, kem dưỡng da 1.050.000 đồng. Tiền đi thẩm mỹ da mặt 25.000.000 đồng. Tổng cộng 40.393.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2020/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Các Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 48 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tổng cộng 3.311.000 đồng phí chí điều trị có hóa đơn, chứng từ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 30 tháng 3 năm 2020 bị hại Lâm Thị Quỳnh N có đơn kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, yêu cầu Lê Thị T bồi thường những khoản đã điều trị không có hóa đơn là 12.082.000 đồng và chi phí đang điều trị da mặt là 25.000.0000 đồng.

Tại phiên tòa, bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử giữ y bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2020/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:

[1] Xét kháng cáo của bị hại Lâm Thị Quỳnh N Hội đồng xét xử xét thấy: Tại đơn kháng cáo của bị hại cho rằng cấp sơ thẩm xét xử về phần trách nhiệm dân sự không đủ số tiền đã chi điều trị thực tế là 15.393.000 đồng và tiền thẩm mỹ (da mặt) dự tính là 25.000.000 đồng.

Xét thấy: Thương tích của bị hại là do bị cáo gây ra, bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại thực tế cho bị hại là đúng quy định của pháp luật. Án sơ thẩm căn cứ vào hồ sơ thể hiện các hóa đơn 2.061.000 đồng, phí ra viện có hóa đơn 250.000 đồng, phiếu chụp pháp y có hóa đơn 1.000.000 đồng là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, bị cáo đã nộp số tiền bồi thường 5.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, ngày 04/3/2020 được đối trừ, còn lại 1.689.000 đồng được hoàn trả cho bị cáo.

Phần chi phí không có hóa đơn gồm: Toa thuốc 432.000 đồng, chi phí săn sóc da 8.000.000 đồng, thuốc bôi da 1.300.000 đồng, kem chống nắng 1.300.000 đồng, kem dưỡng da 1.050.000 đồng bị hại không cung cấp hóa đơn, chứng từ nên cấp sơ thẩm không chấp nhận phần chi phí này là đúng. Do đó, kháng cáo của bị hại không được chấp nhận. Cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2020/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Đối với số tiền thẩm mỹ da mặt 25.000.000 đồng và các khoản phát sinh khác trong quá trình điều trị liên quan đến thương tích do Lê Thị T gây ra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thườngng không cung cấp hóa đơn và bị hại điều trị chưa xong, nếu sau này bị hại điều trị xong, có hóa đơn, chứng từ, bị hại có quyền khởi kiện Lê Thị T thành vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí: Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, bị cáo T đã tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại, do đó bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Đối với bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe thì không phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, ngày 30/3/2020 Lâm Thị Quỳnh N đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng, được nhận lại. Do đó, Hội đồng xét xử sửa bản án về phần án phí.

[4] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 3 Điều 22 và điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại Lâm Thị Quỳnh N.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2020/HS-ST ngày 16/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về phần trách nhiệm dân sự.

Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2020/HS-ST ngày 16/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về phần án phí.

2. Tuyên xử:

2.1. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị T phải bồi thường cho bị hại Lâm Thị Quỳnh N số tiền là 3.311.000 đồng (Ba triệu ba trăm mười một nghìn đồng), đã bồi thường 5.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau theo biên lai thu số 0003498 ngày 04/3/2020 được đối trừ, còn lại 1.689.000 đồng được hoàn trả cho bị cáo Lê Thị T. Bị hại Lâm Thị Quỳnh N có quyền liên hệ cơ quan thi hành án để nhận số tiền bị cáo bồi thường.

2.2. Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Lê Thị T phải chịu 200.000 đồng;

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị cáo Lê Thị T không phải chịu.

- Án phí dân sự phúc thẩm, bị hại Lâm Thị Quỳnh N không phải chịu, ngày 30/3/2020 Lâm Thị Quỳnh N đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (biên lai số 0001603), được nhận lại.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


14
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về