Bản án 47/2019/HS-ST ngày 21/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 21/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Khôi Kỳ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Hoàng S sinh ngày 26/12/1994.

Tên gọi khác: Không.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm B, xã K, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 08/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng;

Bố đẻ: Đinh Văn S, sinh năm 1973.

Nghề nghiệp làm ruộng ; Trú quán: xóm B, xã K, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Mẹ đẻ: Ngô Thị H, sinh năm 1975 (đã chết);

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con.

Tiền án; Tiền sự: không.

Nhân thân:

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 183/QĐ-XPVPHC ngày 30/9/2015 của Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính S số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPVPHC ngày 26/10/2017 của Đồn Công an khu công nghiệp Y; Công an thị xã Phổ Yên xử phạt hành chính S số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Đã thi hành xong ngày 06/11/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2019 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tạ Văn Q, sinh năm 1978 (Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm G, xã K, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Người chứng kiến: Đỗ Minh Q sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm H, xã K, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 21 giờ 00 phút ngày 06/3/2019 Tổ công tác công an huyện Đại Từ phối hợp với Công an xã K, huyện Đại Từ tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực xóm G, xã K, huyện Đại Từ thì phát hiện 01 nam thanh niên đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn đến ma túy, tổ công tác đã yêu cầu nam thanh niên này dừng lại để kiểm tra, nam thanh niên đó chấp hành và khai nhận họ tên là Đinh Hoàng S và S tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng (S khai là ma túy đá của S) S đang cầm ở trên tay trái (niêm phong vào phong bì ký hiệu A). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung C9, màu vàng đã qua sử dụng và đưa S về Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đại Từ để giải quyết.

Hi 12 giờ 30 phút ngày 07/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với S tại xóm B, xã K, huyện Đại Từ, kết quả khám xét không thu giữ gì.

Hi 22 giờ 30 phút ngày 06/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số tinh thể màu trắng thu giữ của Đinh Hoàng S trong gói niêm phong ký hiệu A là 0,319 gam (Không phẩy ba mười chín gam), lấy toàn bộ gửi giám định, niêm phong vào phong bì ký hiệu A1.

Tại kết luận giám định số 514 ngày 14/3/2019 phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong mẫu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,319 gam (Không phẩy ba mười chín gam).

Tại cơ quan điều tra, Đinh Hoàng S khai nhận: Bản thân S là người nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2019 S ở nhà dùng điện thoại đi động có số thuê bao: 0869.789.304 để gọi tới số thuê bao 0378.588.509 của Tạ Văn Q (sinh năm: 1978, trú tại: xóm G, xã K, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên - còn gọi là Q C), mục đích để hỏi mua ma túy sử dụng cho bản thân, Q đồng ý và hẹn S đến nhà Q. Sau đó, S đi bộ đến nhà Q thì gặp Q ở cổng, tại đây S hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy, Q nhận tiền rồi đưa cho S 01 gói ma túy được gói bằng túi nilon màu trắng. Mua được ma túy, S cầm số ma túy trên tay trái đi bộ về nhà để sử dụng, khi đi đến khu vực nhà văn hóa thuộc xóm G, xã K, huyện Đại Từ thì bị tổ công tác Công an huyện Đại Từ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận tội của Đinh Hoàng S phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định...

Vật chứng của vụ án gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy C9, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng; 01 phong bì ký hiệu A1 còn nguyên vẹn (mẫu vật còn lại sau giám định); 01 phong bì ký hiệu A2 còn nguyên vẹn (bên trong có chứa vỏ giấy gói và vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A) được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 51/CT-VKSĐT ngày 30/5/2019 của Viện kiểm sát nhân huyện Đại Từ đã truy tố bị cáo Đinh Hoàng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Đinh Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt: Đinh Hoàng S từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo S thừa nhận việc truy tố và xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đinh Hoàng S khai nhận:

Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2019 bị cáo ở nhà dùng điện thoại đi động có số thuê bao: 0869.789.304 để gọi tới số thuê bao 0378.588.509 của Tạ Văn Q (sinh năm: 1978, trú tại: xóm G, xã K, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), mục đích để hỏi mua ma túy sử dụng cho bản thân, Q đồng ý và hẹn bị cáo đến nhà Q. Sau đó, bị cáo đi bộ đến nhà Q thì gặp Q ở cổng, tại đây bị cáo hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy, Q nhận tiền rồi đưa cho bị cáo 01 gói ma túy được gói bằng túi nilon màu trắng. Mua được ma túy, bị cáo cầm số ma túy trên tay trái đi bộ về nhà để sử dụng, khi đi đến khu vực nhà văn hóa thuộc xóm G, xã K, huyện Đại Từ thì bị tổ công tác Công an huyện Đại Từ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Số ma túy bị cáo tàng trữ có khối lượng là 0,319 gam (Không phẩy ba mười chín gam).

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong - xác định khối lượng, kết luận giám định...

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2019, tại xóm G, xã K, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Đinh Hoàng S có hành vi tàng trữ trái phép 0,319 gam (Không phẩy ba mười chín gam) chất ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi trên của bị cáo S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Ni dung điều luật như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của nhà nước nói chung và chất ma túy nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khỏe của con người mà còn ảnh hưởng và suy hao đến kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo S không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[5] Xét tình tiết tiết giảm nhẹ TNHS thì thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[6] Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động nhưng bị cáo không phát huy được bản chất sẵn có của người lao động để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự và hành vi đánh bạc nên cần phải xử lý nghiêm minh.

[7] Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian có như vậy mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung là phù hợp.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[9] Vật chứng: 02 phong bì niêm phong (ký hiệu A1 và A2) có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng dấu của Công an tỉnh Thái Nguyên (phong bì A1) và Công an huyện Đại Từ (phong bì A2) cần tích thu tiêu hủy. 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy C9, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Về nguồn gốc số Methamphetamine, Đinh Hoàng S khai mua của Tạ Văn Q vào ngày 06/3/2019. Tuy nhiên quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét người, nơi ở của Q nhưng không thu giữ gì. Q không thừa nhận hành vi bán ma túy cho S, ngoài lời khai của S không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý đối với Q.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106, Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Đinh Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Đinh Hoàng S 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/3/2019. Quyết định tạm giam bị cáo S 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

- Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong (ký hiệu A1 và A2) có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng dấu của Công an tỉnh Thái Nguyên (phong bì A1) và Công an huyện Đại Từ (phong bì A2) cần tịch thu tiêu hủy (tình trạng theo quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKSĐT ngày 31/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ).

- Tạm giữ 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy C9, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra để đảm bảo việc thi hành án.

- Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Hoàng S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án/.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 21/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đại Từ - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về